Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

HOA ĐÀO







Cây đào là một thực vật dùng làm thuốc nổi tiếng, cả rễ, vỏ, cành, lá, hoa, hột của nó đều có thể làm thuốc được, có công dụng trừ phong hoạt huyết, giảm, đau, lợi tiểu, sát khuẩn. Rễ, cành và vỏ của cây đào sắc lên uống có thể trừ được bệnh nhiệt dạ dày, vàng da do viêm gan, đau nhói vùng tim, đau bụng. Nếu dùng nước sắc đó để tắm, có thể tránh được bệnh truyền nhiễm, nấm ngoài da, sát khuẩn vết thương. Lá đào tươi đun thành nước thuốc hoặc giã nát vắt lấy nước bôi lên vết thương chữa sưng, đau cực kỳ hiệu quả.

Thông thường thì đào thường được dùng lúc tươi hoặc phơi khô, vì nó có tác dụng hoạt huyết, tiêu ứ chậm nên thích hợp dùng cho phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt.
Ngày hè khát nước, táo bón, bao gồm cả chứng táo bón do cơ thể người già hư nhược và ruột khô, những người đau bụng kinh hoặc tắc kinh đều có thể sử dụng. Các thiếu nữ trong giai đoạn đầu khi mới có kinh nguyệt, các kỳ kinh vẫn chưa đều đặn, nên ăn nhiều đào hoặc mứt đào khô, những người đau bụng do ăn nhiều đồ lạnh càng nên sử dụng.

Lấy lá đào non, lá mướp non mỗi thứ một nửa, cứ 50g cho 3g phèn chua, giã nát bôi lên chỗ đau, chuyên dùng để trị mụn nhọt cho trẻ em.

Quả đào đơn tính nhỏ quắt, không hạt gọi là đào nô, tục gọi là đào khô, có tác dụng chữa thổ huyết, vã mồ hôi, trừ bệnh lỵ. Dùng 40-60g đào khô lép màu xanh lục, thêm một bát rưỡi nước, đun to lửa đến khi còn nửa bát, có tác dụng chữa lỵ giảm sốt.

Dùng 9g đào khô lép và 30 cọng lúa nếp, thêm nước sắc đặc uống thay trà, uống liên tục mấy ngày có thể trị bệnh ra mồ hôi trộm.
 Những quả đào khô qua mùa đông mà vẫn chưa rụng, sang mùa đào năm sau sẽ trở thành đào thơm. Dân gian có phong tục, vào thời điểm làm trà mới thì hái đào thơm, bỏ mấy quả đào thơm vào chỗ trà mới để dành, có thể sát khuẩn, chống ẩm, tăng thêm mùi thơm, khiến cho màu của lá trà và vị trà giữ được lâu không biến chất.

Một số món ăn bài thuốc dùng đào để chữa bệnh
Cháo hoa đào
Nguyên liệu và cách làm: Cánh hoa đào tươi 4g, gạo tẻ 100g, cả hai thứ trên nấu thành cháo loãng, để ăn, cách ngày làm một lần.
Tác dụng: Nhuận tràng thông tiện, thích hợp trị táo bón.
Rượu cành đào
Nguyên liệu và cách làm: Một nhánh đào, rượu 500ml. Chặt nhỏ nhánh đào ra, cho 500ml rượu vào đun, đun cho đến khi chỉ còn 5ml, dùng ngay.
Tác dụng: Hoạt huyết, thông ứ, chủ yếu để trị đau tim đột ngột.
Hoa đào xào chân giò hun khói

Nguyên liệu và cách làm: Hoa đào tươi 5 bông, tôm nõn 10g, chân giò hun khói 10g, trứng gà 4 quả, gia vị vừa đủ. Ngắt bỏ nhị hoa đào, rút từng cánh hoa ra rửa sạch, vẩy ráo cắt thành sợi nhỏ. Tôm nõn rửa sạch, cho rượu, gia vị vào, hấp chín, cắt nhỏ. Chân giò hun khói, gừng cắt nhỏ. Trứng gà đập vào bát, đánh tan, cho thêm nước dùng gà, mì chính, rượu, gia vị, bột tiêu trắng, đánh đều lên. Đặt chảo lên bếp, đun nóng rồi cho mỡ vào, cho gừng vào phi dậy mùi rồi vớt ra, đổ trứng gà đã cho gia vị vào, dùng muôi đảo, xào chín, đổ ra đĩa rồi rắc sợi hoa đào, tôm nõn, chân giò hun khói lên trên.
Tác dụng: Dùng cho phụ nữ mang thai tiểu tiện không thông.
Trứng gà luộc cành đào
Nguyên liệu và cách làm: Cành đào (cành mới đâm trong năm, còn cuống lá, 0,6-0,9m, khoảng 250g, trứng gà 3 quả. Cành đào chặt từng khúc khoảng 3,5cm, cho vào nồi đất luộc chung với trứng gà trong khoảng 2-3 giờ, đến khi vỏ trứng chuyển sang màu nâu sẫm, lòng trắng trứng có màu vàng nhạt thì thôi. Sáng, trưa, tối mỗi buổi ăn 1 quả, dùng liên tục trong 1-2 tháng thì ngừng.

Tác dụng: Chủ yếu dùng để chữa trị bệnh u cổ tử cung, nhưng cần lưu ý cành đào phải là cành mới mọc trong năm, dùng tay bẻ hoặc mảnh sành chặt đứt, không sử dụng đồ kim loại để luộc.

Các bài thuốc dân gian sử dụng quả đào tươi
Bài 1: Đào tươi 3 quả, gọt bỏ lớp vỏ ngoài, thêm 30g đường phèn, hầm cách thủy đến khi nát ra thì bỏ hạt, mỗi ngày dùng 1 lần. Tác dụng trị ho.
Bài 2: Đào tươi khi ăn gọt vỏ bỏ hạt, mỗi ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần ăn 1-2 quả. Tác dụng chữa tăng huyết áp.
Chú ý: Quả đào tính ôn, nếu ăn nhiều dễ gây trướng bụng, nổi nhọt.
(Báo Súc Khỏe và Đời Sống)

HOA ĐÀO_ VỊ THUỐC CHO SỨC KHỎE VÀ SẮC ĐẸP
Hoa đào chỉ nở vào mùa xuân và trở thành một phần không thể thiếu đối trong văn hóa của người dân miền Bắc mỗi khi dịp Tết đến Xuân về. Hơn thế, hoa đào còn là một dược phẩm và mỹ phẩm độc đáo của nền y học cổ truyền. Hoa đào dùng để chữa bệnh
Hoa đào có vị đắng, tính bình, không độc và vào được ba đường kinh Tâm, Can và Vị. Vị thuốc này có công dụng lợi thủy, hoạt huyết, thông tiện, được người xưa dùng để chữa các chứng bệnh như thủy thũng, cước khí, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện bất lợi, kinh bế, tâm phúc thống (đau vùng tim), mụn nhọt........
Chính vì vậy mà từ xa xưa, sau dịp Tết Nguyên đán, người ta thường thu hái hoa đào đem phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) và bảo quản nơi cao ráo để làm thuốc dùng dần.
* Để trị các chứng cước khí, đau vùng tim, người ta dùng hoa đào khô tán bột, uống với nước ấm hoặc rượu với liều từ 3 - 5g trong một ngày.
* Để chữa chứng rụng tóc, hói đầu người ta dùng bột hoa đào trộn đều với mỡ lợn hoặc dầu vừng rồi bôi lên vùng tổn thương sau khi đ• rửa sạch bằng nước hòa với tro của rơm rạ.
* Để chữa chứng ngược tật (sốt rét) dùng hoa đào tán bột uống, mỗi ngày 3 g với rượu ấm.
* Để chữa chứng kiết lỵ dai dẳng, có thể dùng hoa đào 10 - 15 bông sắc uống, mỗi ngày 3 lần.
* Để chữa chứng đại tiện táo kết, dùng hoa đào khô 10g, hoa đào tươi 30g, sắc uống.
* Để chữa chứng tiểu tiện bất lợi, dùng hoa đào tươi 30g trộn với bột mỳ, đường làm bánh nướng ăn.


Hoa đào dùng để làm đẹp

* Với những phụ nữ quá béo, muốn có được một thân hình thon thả, ưa nhìn, sách Thiên kim yếu phương khuyên nên uống bột hoa đào mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1g vào lúc đói.
* Để trị các vết rám đen ở mặt, người ta dùng hoa đào 4 phần, bạch dương bì 2 phần và bạch quả tử nhân 5 phần, tất cả đem sấy khô, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g ngay sau bữa ăn.
* Phụ nữ muốn có được làn da trắng trẻo, nhu nhuận, mịn màng có thể dùng bài thuốc có tên gọi là Ngọc nhan tán, gồm các vị : hoa đào 200g, đông qua nhân (nhân hạt bí đao) 250g, và bạch dương bì (vỏ cây bạch dương) 100g. Các vị đều sấy hoặc phơi khô, tán bột, trộn thêm một chút đường trắng rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê sau bữa ăn.
Danh y Tuệ Tĩnh trong Nam dược thần hiệu cũng đã ghi lại hai phương thuốc dùng hoa đào để làm đẹp da mặt cho phụ nữ.
Phương thứ nhất: hoa đào 4 lạng ta, nhân hạt bí đao 5 lạng ta , vỏ quýt 2 lạng ta, tất cả đều phơi khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 đồng cân với nước ấm sau bữa ăn. Muốn da trắng thì thêm nhân hạt bí đao, nếu muốn da đỏ hồng thì thêm hoa đào. Uống 50 ngày thì mặt trắng, uống thêm 50 ngày nữa thì da dẻ toàn thân cũng trở nên trắng trẻo.
Phương thứ hai: vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch lấy hoa đào phơi khô, tán bột. Ngày mùng 7 tháng 7 chích lấy máu ở mào con gà, đem trộn với bột hoa đào rồi bôi lên da mặt, sau 2 - 3 ngày màng thuốc bong ra thì da mặt trở nên tươi sáng như hoa. Đây là phương thuốc làm đẹp bí truyền của Thái Bình công chúa đời nhà Đường (Trung Quốc), sau được sách Thánh tễ tổng lục chế thành một loại mỹ phẩm có tên gọi là Diện mô cao.
* Để trị trứng ca, mụn nhọt trên da mặt, Tuệ Tĩnh khuyên nên dùng hoa đào và nhân hạt bí đao với liều lượng bằng nhau, phơi khô, tán bột, hòa với mật mà bôi hoặc dùng hoa đào và đan sa với liều lượng như nhau, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 đồng cân (3 - 4g) vào lúc đói trong 10 - 20 ngày. Ngoài ra, để trị mụn nhọt ở vùng lưng, sách Thánh tễ tổng lục khuyên nên dùng bột hoa đào hòa với dấm đặc mà bôi lên tổn thương nhiều lần trong ngày.

HOA ĐÀO: MỘT VỊ THUỐC QUÝ

Hoa đào tính bình, vị đắng vào 2 kinh: Can vị, có công năng hoạt huyết, lợi thủy, thông tiện, chữa trị chứng thủy thũng, cước khí, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện không lợi, kinh nguyệt không thông. Hoa này còn dùng chữa sởi, đậu. Phụ nữ có thai cấm dùng, vì thuốc gây hưng phấn tử cung.
Hoa đào phơi âm can, giã nát, uống nóng với rượu có thể thông đại tiện, trừ được đàm ẩm và chứng súc thủy (tồn đọng nước) ở thận, bàng quang, chuyên trị bệnh cước khí.
Hoa đào tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc, nhưng hoa tươi (đặc biệt là loại mới chớm nở, sắp nở tốt hơn là khô).
Hoa đào nấu với gạo tẻ, mật ong và đường thành cháo để ăn, có tác dụng hoạt huyết, chữa đại tiểu tiện bí kết. Hoa đào và hoa mai lượng bằng nhau, pha lấy nước để rửa mặt, có tác dụng tẩy bỏ dần các vết thâm và nốt xám đen trên mặt, làm đẹp da.
Dùng hoa đào để rửa mặt, nhất là đối với những người da mẫn cảm, có nhọt lâu khỏi, có thể dùng hoa đào và muối ăn cùng lượng, giã nát trộn đều hòa với dấm mà đồ. Nếu trên mặt có nốt mụn ra nước vàng hoặc mủ đặc, có thể dùng bột hoa đào hoặc trà hoa đào để uống.
Hạt giống của cây đào gọi là đào nhân. Đào nhân tính bình, vị ngọt đắng. Cổ nhân thường dùng nhân phối hợp với hồng hoa gia nhập trong thang.

Hoa đào, hoa hồng, hoa tường vi, hoa mai, hoa rau hẹ, trầm hương mỗi loại 30g, hạch đào nhân 240g, rượu nếp, rượu đã chưng cất 1.250ml. Đem các vị trên ngâm trong rượu, nút kín, sau một tháng có thể đem dùng được. Trong quá trình ngâm đó nên lắc nhiều lần cho thật đều. Mỗi lần uống 20ml, ngày uống 1 - 2 lần, có tác dụng chữa liệt dương.
Hoa đào 25g, rửa sạch ngâm với rượu trắng 250ml, đậy nút kín, sau một tuần lấy ra uống. Mỗi lần uống 10ml, pha thêm vào nước sôi để ấm cho loãng ra để uống. Cũng có thể dùng hoa đào, lăng tiêu hoa, mỗi loại 10g, 10 quả trứng gà. Đem rửa sạch hoa xong nghiền nát thành bột.
Trứng gà rửa sạch đem đục một lỗ thủng dốc cho ra bớt lòng trắng, còn lại để nguyên, nhét bột hoa vào trong quả trứng, bịt kín lỗ đục đó bằng giấy ướt, xong bỏ vào trong nồi để hấp cách thủy cho đến chín. Mỗi ngày ăn hai quả chia ra 2 lần, dùng chữa bế kinh.
Để làm hết các nếp nhăn trên da mặt các cô, các chị có thể dùng nước sắc hoa đào rửa mặt. Hoặc là lấy hoa đào, nhân hạt bí đao nghiền mịn, trộn với mật ong, buổi tối xoa lên mặt, sáng dậy rửa đi, các vết nhăn sẽ dần dần hết.
Hoa đào 10g, hoa sen 15g. Phơi khô, nghiền vụn, chia 3 lần bỏ vào trong cốc thủy tinh để pha nước sôi vào như pha trà để một lát cho nước còn ấm, uống như uống nước trà, để chữa các vết sắc tố trên da mặt.
Đào hoa, sơn chi hoa (hoa dành dành) mỗi loại liều lượng bằng nhau, một ít ghixêrin, trộn đều đem nghiền vụn hai hoa xong hòa đều vào ghixerin để làm thuốc bôi lên các nốt mụn trứng cá trên mặt.

HOA ĐÀO VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN
Từ xa xưa, sau dịp Tết Nguyên đán, người ta thường thu hái hoa đào đem phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) và bảo quản nơi cao ráo để làm thuốc dùng dần. Theo nhiều sách thuốc cổ như Thiên kim phương, Ngoại đài, Thánh tễ tổng lục, Thánh huệ phương, Biệt lục, Bản thảo cương mục, Trửu hậu phương, Hồng nghĩa giác tư y thư…hoa đào có vị đắng, tính bình, không độc và vào được ba đường kinh Tâm, Can và Vị. Vị thuốc này có công dụng lợi thủy, hoạt huyết, thông tiện, được người xưa dùng để chữa các chứng bệnh:

- Để trị các chứng cước khí, đau vùng tim, người ta dùng hoa đào khô tán bột, uống với nước ấm hoặc rượu với liều từ 3 - 5g trong một ngày.

- Để chữa chứng rụng tóc, hói đầu người ta dùng bột hoa đào trộn đều với mỡ lợn hoặc dầu vừng rồi bôi lên vùng tổn thương sau khi đã rửa sạch bằng nước hòa với tro của rơm rạ.

- Để chữa chứng ngược tật (sốt rét) dùng hoa đào tán bột uống, mỗi ngày 3g với rượu ấm.

- Để chữa chứng kiết lỵ dai dẳng, có thể dùng hoa đào 10 - 15 bông sắc uống, mỗi ngày 3 lần.

- Để chữa chứng đại tiện táo kết, dùng hoa đào khô 10g, hoa đào tươi 30g, sắc uống.

- Để chữa chứng tiểu tiện bất lợi, dùng hoa đào tươi 30g trộn với bột mỳ, đường làm bánh nướng ăn.

-

Với những phụ nữ có cân nặng quá khổ, muốn có được một thân hình thon thả, ưa nhìn, sách Thiên kim yếu phương khuyên nên uống bột hoa đào mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1g vào lúc đói.

- Để trị các vết rám đen ở mặt, người ta dùng hoa đào 4 phần, bạch dương bì 2 phần và bạch quả tử nhân 5 phần, tất cả đem sấy khô, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g ngay sau bữa ăn. Bài thuốc này có tên gọi là Bạch dương bì tán, được ghi lại trong sách Trửu hậu phương.

Hoặc dùng hoa đào tươi 50g, nhân hạt bí đao 50g, hai thứ nghiền nhỏ trộn với mật ong rồi bôi mỗi ngày vài lần lên da mặt.

Hoặc dùng hoa đào tươi 250g và bạch chỉ 30g ngâm với 1000ml rượu trắng, sau 1 tháng thì dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 ml. Hoặc dùng hoa đào 10g, hoa sen 15g hầm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

- Phụ nữ muốn có được làn da trắng trẻo, nhu nhuận, mịn màng có thể dùng bài thuốc có tên gọi là Ngọc nhan tán, gồm các vị: hoa đào 200g, đông qua nhân (nhân hạt bí đao) 250g, và bạch dương bì (vỏ cây bạch dương) 100g. Các vị đều sấy hoặc phơi khô, tán bột, trộn thêm một chút đường trắng rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê sau bữa ăn.

Hoặc có thể dùng bài Tam hoa trừ trựu dịch gồm có hoa đào, hoa sen và hoa phù dung lượng bằng nhau, sắc lấy nước rửa mặt hàng ngày. Cũng có thể dùng hoa đào tươi 120g ngâm với 500 ml rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 10 ml.
Danh y Tuệ Tĩnh trong Nam dược thần hiệu cũng đã ghi lại hai phương thuốc dùng hoa đào để làm đẹp da mặt cho phụ nữ.

Phương thuốc thứ nhất: hoa đào 4 lạng ta, nhân hạt bí đao 5 lạng ta, vỏ quýt 2 lạng ta, tất cả đều phơi khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 đồng cân với nước ấm sau bữa ăn.

Muốn da trắng thì thêm nhân hạt bí đao, nếu muốn da đỏ hồng thì thêm hoa đào. Uống 50 ngày thì mặt trắng, uống thêm 50 ngày nữa thì da dẻ toàn thân cũng trở nên trắng trẻo.

Phương thuốc thứ hai: vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch lấy hoa đào phơi khô, tán bột. Ngày mùng 7 tháng 7 chích lấy máu ở mào con gà, đem trộn với bột hoa đào rồi bôi lên da mặt, sau 2 - 3 ngày màng thuốc bong ra thì da mặt trở nên tươi sáng như hoa. Đây là phương thuốc làm đẹp bí truyền của Thái Bình công chúa đời nhà Đường (Trung Quốc), sau được sách Thánh tễ tổng lục chế thành một loại mỹ phẩm có tên gọi là Diện mô cao.

- Muốn tư âm bổ thận, nhuận da và dưỡng nhan sắc, có thể dùng món ăn được chế từ hoa đào: hoa đào 20 bông, tôm nõn 300g, củ cải 150g, hành tây 70g, tương cà chua 50g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Hoa đào tỉa lấy cánh rửa sạch, củ cải và hành tây rửa sạch thái mỏng, đổ dầu vào chảo, phi hành cho thơm rồi cho tôm, củ cải, hành tây vào xào to lửa, khi chín cho tương cà chua và gia vị vừa đủ, đổ ra đĩa, rắc cánh hoa đào lên trên, ăn nóng.

- Để trị trứng cá, mụn nhọt trên da mặt, Tuệ Tĩnh khuyên nên dùng hoa đào và nhân hạt bí đao với liều lượng bằng nhau, phơi khô, tán bột, hòa với mật mà bôi hoặc dùng hoa đào và đan sa với liều lượng như nhau, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 đồng cân (3 - 4g) vào lúc đói trong 10 - 20 ngày.

Ngoài ra, để trị mụn nhọt ở vùng lưng, sách Thánh tễ tổng lục khuyên nên dùng bột hoa đào hòa với dấm đặc mà bôi lên tổn thương nhiều lần trong ngày.

Ngày nay, các nhà khoa học đã phân tích và tìm thấy trong hoa đào có chứa 8 loại glucoside như kaemferol, quercetin, kaempferol 3-0-anpha-L-arabinofuranoside, quercetin kaempferol 3-0-anpha-L-arabinofuranoside...Ngoài ra còn có Coumarin, Trifolin, Naringenin…Đặc biệt, các nhà khoa học Nhật Bản còn nhận thấy, phần phân tách từ dịch chiết methanol của hoa đào còn có tác dụng làm sạch gốc tự do 1,1-diphenylpicryl-2-hydrazyl (DPPH) và superoxide. Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu khảo sát thành phần hoá học, tác dụng dược lý của hoa đào trên thực nghiệm cũng như lâm sàng.



Cho đến nay, không có nhiều tư liệu ghi chép vườn đào Hải Thượng Lãn Ông trồng từ bao giờ, có bao nhiêu gốc, nhưng chúng ta có thể biết...

Vườn đào ấy ( ở Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh) được trồng sau khi Hải Thượng Lãn Ông “bẻ tên, cởi giáp”, cởi bỏ áo mũ, rời khỏi quân ngũ, trốn chạy cảnh “cốt nhục tương tàn” của chiến tranh phong kiến trở về làng quê nuôi mẹ, chăm em, sau năm 1746.

Tỏa sáng tâm, tài
Trước mặt vẫn sông Phố trong xanh uốn khúc, sau lưng trùng điệp núi non, vườn được bao quanh hàng xoan, hàng xà cừ xanh tốt, nhưng những rặng tre phía Tây không còn. Vườn thuốc nam của cụ Hải Thượng Lãn Ông bây giờ chỉ còn là những vạt sắn, khóm rau, nương khoai của nhân dân trồng trọt.

Trước đây, vườn cụ rộng tới 3 ha, bây giờ chỉ còn 1 ha. Ba phía đã được xây dựng tường rào chắc chắn. Nhưng vẫn còn đó núi Giả, hồ Sen gần giống như ngày ngày cụ ra vườn chăm tưới. Núi Giả cao 4m, diện tích 42 m2; Hồ Sen hình bán nguyệt ôm chân núi ở phía Tây Bắc. Núi Giả đã được tôn tạo, xanh rì cỏ mật. Hồ Sen đã được kè đá. Mấy trăm năm trước, nơi đây được Hải Thượng Lãn ông dùng làm chỗ quan sát hướng gió, xem thời tiết để bắt mạch, kê đơn, chữa bệnh.
Trên đỉnh núi Giả khi ấy còn có cây cột, cụ cắm lá cờ đuôi nheo để biết hướng gió mà đoán thời tiết phục vụ cho việc chẩn trị. Núi Giả, hồ Sen cũng là nơi cụ cùng bạn hữu ngắm trăng thanh, gió mát, đàm đạo văn chương trong những phút thư thái thanh nhàn.

Cũng tại nơi này, trong 44 năm sinh sống, Hải Thượng Lãn Ông đã học tập, đúc rút, nghiên cứu, sáng tạo viết nên pho sách đồ sộ: “Y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 cuốn bao gồm đủ các mặt: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng... Cảnh sắc hương thôn thảo dã cũng nuôi thi hứng để cụ viết nên những vần thơ tài hoa về cảnh sắc thiên nhiên và nhân sinh thế sự và sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời giữa đề huề con cháu, trong tình nghĩa của làng xóm, nhân dân... Thiên nhiên hoa lá của khu vườn đã được Hải Thượng Lãn Ông ghi lại trong “Thượng kinh ký sự”.

Gìn giữ, khôi phục di tích.
Nhân dân Sơn Quang kể rằng, cũng từ vườn cây thuốc này, vào khoảng năm 1750, cụ đã nghĩ đến việc ươm đào và nhân giống loại cây có hoa rất đẹp này. Đây là giống đào phai của địa phương. Gốc và cành đào có màu đồng hun. Giống đào hoang dại này mọc nhiều ở núi Nen. Cây to, tán rộng, nhiều cành, hoa năm cánh, màu hồng phai. Quả nhỏ, nhiều lông, lúc chín vỏ màu vàng xanh, hạt nhỏ.

Trong gia phả họ Lê ở Sơn Quang ghi rằng: “Vườn đào rộng 6 mẫu (3 ha) nằm sát bờ phải sông Ngàn Phố”. Hải Thượng Lãn ông trồng đào không chỉ là thú chơi hoa ngắm cảnh, mà còn vì nó là vị thuốc quý. Lá đào sắc lên chữa nhọt, hạt đào chữa bệnh phụ nữ đều có trong các bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông. Trong vườn, đào mọc quấn quít trước sân, trước cổng, sau nhà. Mùa xuân, khi hoa nở rộ, ong bướm ríu ra ríu rít tìm hoa hút mật.

Ông Lê Hữu Quý - Chủ tịch Hội đông y huyện Hương Sơn - cháu đời thứ 6 của Hải Thượng Lãn ông cho biết: “Trước đây, trong khu vườn Hải Thượng Lãn ông có 7 ngôi nhà: Nhà Nghinh phong để đón khách, nhà Di chân dùng để nghỉ ngơi, nhà bếp và 4 nhà còn lại, nhà thì sao sấy thuốc, nhà kê đơn, bắt mạch, khám bệnh, nhà kho đựng thuốc, nhà thì cho người bệnh nghỉ ngơi”. Bây giờ 7 ngôi nhà ấy đã không còn.
Năm 1972, họ Lê Hữu thuộc chi Sơn Hòa đã hiến 3 gian nhà thờ (gỗ xoan mít, tứ trụ, kẻ chuyền có chạm khắc ở đuôi kẻ và cánh cửa chạm khắc cảnh Xuân, Hạ Thu, Đông và long ly quy phượng) để làm nhà thờ, được đặt trên nền nhà cũ. Trong nhà thờ có bàn thờ, có bộ ngũ sự bằng đồng gồm một lư hương to, 2 con hạc, 2 ống đèn thắp dầu lạc, lư hương đốt đồng (do quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng cung tiến năm 2004). Tượng thạch cao quét nhũ đồng (do Tỉnh hội đông y Nghệ Tĩnh tặng), chuông đồng, trống (do Tỉnh hội đông y Hà Tĩnh tặng)... Nhưng đáng tiếc, tất cả di vật của Hải Thượng Lãn Ông như ống sáo diều chúa Trịnh Sâm ban cho và nhiều tác phẩm khác, qua thời gian đã bị mất mát, thất lạc.

Được biết, hiện “Dự án đầu tư tu bổ tôn tạo quần thể di tích Đại danh y Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác” với ngân sách 21 tỷ đã được Bộ Y tế và Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác làm chủ đầu tư, đang triển khai. Rất nhiều hạng mục công trình sẽ làm sống dậy khu vườn của cụ Hải Thượng Lãn Ông ngày xưa: Khu mộ, tượng đài, khu đón tiếp; khu đền thờ, trong đó có vườn đào, núi Giả, hồ Sen.

Sự Tích Hoa Đào Ngày Xuân

Ngày xưa, ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào sum suê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng.
Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh.

Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành hoa đào là bỏ chạy xa bay. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Lũy phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng.
Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ, nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.

Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ. Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như Tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hòa hợp được trang trí mấy ngày Tết trong không khí vui vẻ, đầm ấm.

Xuân không phải mùa riêng của hoa đào khoe sắc. Nhưng không biết tự bao giờ, nàng Xuân đã chọn loài hoa e ấp nụ cười, ửng hồng cánh mỏng và mảnh mai dáng hình này để mỗi năm một lần hoá thân về với nhân gian.

Ngày thường, chẳng ai để ý đến một loài cây cành lá bơ phờ, héo rũ, thân cành xù xì, qua đông càng quắt lại, đứng khẳng khiu, âm thầm như sắp lụi tàn trong sương giá. Vậy mà chỉ một sớm mai kia, ta bỗng thấy từng nụ, từng nụ hoa chúm chím, từng lộc biếc non tơ như đang ngậm cả mùa xuân đất trời. Thoảng gió đông về là chúng bừng lên sắc hồng phơn phớt diệu kỳ. Giữa trăm hoa muôn hồng ngàn tía, đào hoa kia dẫu bé nhỏ, chẳng kiêu sa nhưng sắc vẻ mơn mởn như má đào con gái, căng tràn sức sống tuổi dậy thì, quả xứng đáng là biểu tượng của mùa xuân, mùa khởi đầu cho một vòng quay bất tận của đất trời.
Nếu đào được mệnh danh là “báo xuân hoa” thì mực tàu giấy đỏ dường như cũng có mối giao cảm kỳ lạ với đất trời. Thứ chữ của Thánh Hiền vốn ung dung, tự tại ấy vậy mà khi xuân về, nhân sinh lại không ngần ngại phô bày, rực rỡ sắc màu “bên phố đông người qua”, cùng tắm nắng, gội mưa trong tiết trời lất phất, se se lạnh.
Hoa đào và thư pháp như tao nhân, mặc khách không hẹn mà gặp mỗi dịp xuân về..

CHUYỆN KỂ VỀ CÀNH ĐÀO VUA QUANG-TRUNG TẶNG NGỌC-HÂN CÔNG CHÚA

 

Cành đào bích vua Quang Trung gửi báo tin chiến thắng từ Thăng Long vào thành Phú Xuân tặng Ngọc Hân công chúa cách đây 216 năm phải chăng chỉ là một huyền thoại đẹp? Chi tiết này hoàn toàn không có cứ liệu lịch sử! Tuy nhiên, người dân trồng đào Nhật Tân khẳng định đó là một câu chuyện thật 100%. Phần đất đuôi của dinh Lẫm xưa, nơi chuyên trồng đào tiến vua nay hoa đào vẫn rộ mỗi độ gió đông về…

BÍCH ĐÀO - HOA CỦA TRỜI
Áp Tết Ất Dậu, tiết xuân đất Bắc vương vất giá lạnh, lây rây mưa bụi. Giữa một khoảnh đất trồng đào còn sót lại ven Hồ Tây thuộc vùng Nhật Tân, tôi chợt nhớ một hình ảnh đẹp trong lịch sử đã được học: Rằng mùa xuân Kỷ Dậu 1789, sau khi đại chiến quân Thanh, tiến quân vào Ngọc Hồi, vua Quang Trung cho người mang cành hoa bích đào vào thành Phú Xuân tặng Ngọc Hân công chúa. Cành bích đào đó được trồng trên chính vùng đất Nhật Tân - dinh Lẫm xưa, nơi tôi đang đứng cùng ông Nguyễn Văn Sửu – nghệ nhân trồng đào đang từng ngày nơm nớp lo cho số phận cây hoa đào.
Ông Sửu rút chiếc khăn tay ra thấm nước mưa phủ mờ trên cặp kính lão, giọng nói đầy ngậm ngùi: “- Chẳng bao lâu nữa, sắc thắm đào bích chính gốc Nhật Tân sẽ biến mất, nhường chỗ cho các tòa nhà cao tầng biệt thự phục vụ công cuộc mà người ta cho là hiện đại hóa đất nước, bất chấp người dân lên tiếng gìn giữ cây đào truyền thống”. Trước vườn đào, thoắt quên đi cái sự buồn, ông Sửu say sưa kể về những cây đào ông chăm chút gặp được người khách mua tâm đắc.

Ông Sửu đầy hào hứng khi nhắc tới câu chuyện cành đào vua Quang Trung tặng Ngọc Hân công chúa, nhưng niềm vui vuột biến mất trên khuôn mặt ông, ông bảo: “Cho tới nay, các nhà sử học vẫn cho câu chuyện ấy là truyền thuyết. Nhưng cụ nội tôi kể cho ông tôi nghe, ông tôi kể lại với bố tôi, rồi bố tôi kể cho tôi. Bốn đời người, tới nay tôi gần 70 tuổi, vậy mang tuổi tác của 4 đời người ra để so sánh với mốc lịch sử nửa đầu thế kỷ XVIII thì gần lắm! Tôi nghĩ, đôi khi các nhà sử học cũng quên những chi tiết khi ghi chép, và có thể câu chuyện này là một sự quên lãng”

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

HẰNG NGA, HẬU NGHỆ





Truyền thuyết kể,từ thuở khai thiên lập địa đồng thời vũ trụ xuất hiện mười Ông Mặt Trời...Dân gian giống như lò lửa, sông cây khô cháy, người chết như rạ. Lúc đó có vị thần xạ thủ tên là Hậu Nghệ vì muốn giải cứu lê dân bá tánh, vươn cung xạ dịch bắn trúng chín Ông Mặt Trời. Và chính vì vậy động lên Thiên Đình. Vì muốn chuột tội, người vợ duy nhất của Hậu Nghệ là Hằng Nga đành phải bôn nguyệt thăng thiên, bỏ Hậu Nghệ ra đi. Cặp chồng kia mãi mãi xa cách. Vũ trụ sau nhiều thay đổi, đẩu chuyển tinh di người đời vẫn chưa quên cuộc tình đến chết chưa phai đó và đã đúc một đỉnh thật là to mang cốt truyện Hằng Nga Bôn Nguyệt, Hậu Nghệ Xạ Dịch ghi khắc lên đỉnh đó. Nhưng đáng tiết thế Nguyệt lưu triết, cái đỉnh to năm xưa không biết đã đi nơi nào và lịch sử trở thành truyền kỳ. Truyền kỳ lại thành truyện thần thoại. Thế độc đế Tôn của Hán Cao Tổ Hoài Nam Dương Lưu An cùng với ái thê Phương Hoa tuyệt đại của ông ta là Tòng Nguyệt suốt đời chìm đắm trong  những câu chuyện thần thoại. Hai vợ chồng Lưu An trải qua nhiều năm khảo cổ đào bới tìm kiếm, muốn mang tất cả những câu chuyện thần thoại sưu tập lại, soạn thành sách vở.
Một trận mưa lưu tinh đã làm cho Hán Võ đế thức dậy trong giấc mộng nhưng tai họa vô cùng tận đã tới cho Lưu An. Trong trận mua long trời lỡ đất đó, đất lở gần chỗ Lưu An đã lộ ra cái đỉnh to. Lưu An bảo biết đâu đây là cái đỉnh cổ của Nguyên đế mà dân gian hay đồn đãi. Trên đỉnh ghi chép truyền Hằng Nga Bôn Nguyệt để thực hiện Lưu An cần phải vui vẻ trong người nhưng không biết tại làm sao lại nổi lên sự đắn đo khó hiểu.
Lạc Phong Hầu Loan Đại có xích mích với Lưu An nên thường dùng những tà môn làm mê hoặc Võ Đế. Ông đã du cáo Lưu An có ý đồ bất chánh. Còn vợ chồng Lưu An thì không để ý tới cái chuyện đó. Ở trong lòng của họ Cổ đỉnh là Danh Vật không phải là thần khí hồ uất gì cả.  
Hán Võ Đế dưới sự chỉ dục của gian thần Loan Đại, trong ngày mừng thọ Hoàng Mẫu đã dùng đứa bé sơ sinh của thị vệ Thiên Tính Lưu An làm tế phẩm cúng tế, thậm chí ngay cả đồng nam đồng nữ dùng trong việc vận chuyển đỉnh đồng cũng không được may mắn. Cho nên nhất thời gió tanh mưa máu. Loan Đại rượt đuổi giết vợ chồng Lưu An đã bị sét đánh chết. Cũng trong trận loạn đó vợ của Lưu An bị thiệt mạng. Trước lúc lâm chung Nguyệt nhi còn nói với Lưu An là: nếu anh tìm em dưới đất không thấy thì hãy nhìn lên mặt trăng. Nguyệt nhi đã mơ tưởng rất nhiều về chuyện viết lại những tích mà hai vợ chồng đã tìm được. Lưu An đau buồn muốn tự sát nhưng Nguyệt Nhi hiện thân thì thầm với Lưu An là: Không lẽ anh quên rồi sao, không muốn đi với Tòng Nguyệt viếng cổ Thần Hoàng viết xong truyện của Hằng Nga và Hậu Nghệ hay sao?
-Lưu An nói: Anh đã hứa như vậy nhưng mà Nguyệt Nhi cổ đã chết rồi. 
-Nguyệt Nhi: không lẽ Nguyêt không còn sống trong lòng của anh. Trong lòng anh còn có Tòng Nguyệt.  Vương gia, Tòng Nguyệt chua chết cổ sống trong lòng của anh.
- Lưu An chợt hiểu ra,  và hứa với Nguyệt Nhi viết xong câu chuyện tình về Hằng Nga, Hậu Nghệ lưu truyền thiên cổ.
Lưu An và Tòng Nguyệt từ này thiên nhân khuyết nguyệt. 
Như được tiếp thêm nghị lực Lưu An cầm bút vừa viết vừa đọc.Cang cường... Hằng Nga, Tòng Nguyệt tuy mà một. Ở trong Bôn Nguyệt có ông ta. Lúc đó, Tòng Nguyệt hầu như đã sống lại thật sự. Hai người tiếp tục tình duyên truyền miên cả đời. Hằng Nga Bôn Nguyệt truyền kỳ lưu danh vạn thế. Vừa viết về Tòng Nguyệt vừa làm cô ta sống lại trong lòng của mọi người.
Thượng cổ thần thoại của Lưu An: Ngày xưa, Thiên Đế hạ phàm đã nhiễm bảy sắc dân gian. Tình yêu của Thiên Đế khi khai hoa kết quả đã cho ngài một Hằng Nga xinh đẹp. Tình yêu ấy vốn có quả ngọt nhưng khi Ngài mang nó về trời trở thành trái đắng trong lòng của Thiên hậu. Từ đó Thiên Hậu căm ghét nhân gian. Bà huấn luyện mười đứa con của Bà ( mười Ông Mặt Trời) phải nhiễu lọan nhân gian không ngừng. 
 Hậu Nghệ vốn là tiên trên trời, hết lòng thương yêu Hằng Nga. Thiên Hậu biết được việc đó, Bà muốn trả thù Thiên Đế đã phản bội Bà nên tìm cách chia rẻ Hằng Nga và Hậu Nghệ. Nhân lúc Thiên Đế muốn thả quái vật giao long ra.Thiên Đế nghĩ mọi chuyện đều có nhân quả tuần hòan, cho nên thả yêu vật ra để chúng thành tựu những thành khác.  Hậu Nghệ ngăn cản. Thiên Hậu lấy cớ đó cho là cải lệnh trời nên phạt người xuống trần gian. Khi mới xuống trần Hậu nhận Ông Bà Phùng Đại Má làm cha mẹ.Những ngày sống ở dân gian Hậu Nghệ càng thấy dân gian hữu tình. Nhưng cuộc sống ngừoi phàm không như người tưởng, bên trong có rất nhiều nghi kỵ và mưu trứơc. Hậu Nghệ giáng phàm thì Thiên Hậu cũng cho thả quái vật Giao long ra để đi gây chiến với Hậu Nghệ. cảnh lầm than của nhân gian cũng xảy ra từ đó. Sở dĩ quái vật lọng hành như vậy là do có sự tiếp sức của chín Ông mặt trời và Thiên Hậu. Trong số mười Ông Mặt Trời có một ông cửu mặt trời có tấm lòng bao dung, luôn chống lại Thiên Hậu và chín Ông mặt Trời kia. Chàng đã sang sẽ nguyên thần của mình trong việc Hằnng Nga hạ phàm.Bởi Hằng Nga là Bổn Nguyệt công chúa là con của Thiên đế và phàm dân và cũng là người em thương yêu nhất trong lòng cửu mặt trời đó.
 Hậu nghệ cũng là tiên trên tiên trên Trời, vốn tài giỏi bắn cung.  
Sau khi được thả ra yêu quái Giao Long luôn bám theo phá rối Hậu Nghệ. Những ngày ở phàm gian Hậu Nghệ là anh em của Phong nhi (Hà Bá). Phong nhi sau khi bị giao Long giết chết được thành tiên, làm Hà Bá chấn giữ sông Hòang Hà, đồng thời bị Đại Ông mặt trời khống chế.  
Hằng Nga thiên định tâm linh tương thông với Hâu Nghệ nhưng Vương Mẫu muốn trả thù Ngọc Đế nên hứa gả Hằng Nga cho Hà Bá, để chia cắt mối nhân duyên này.
Mặc dù Hậu Hậu Nghệ là người phàm nhưng Tây Vương mẫu tấm lòng bát ái bao la. Bà trợ giúp cho Hậu Nghệ xây thang lên Trời để cầu hôn Hằng Nga. Còn Vương mẫu nương nương tương kế tửu kế. Một mặt nhận lời của Hậu Nghệ mặt khác tráo giả Hà Bá làm Hậu Nghệ. Khi phát hiện sự việc Hằng Nga nghĩ Thiên địa dân gian không có chỗ dung thân của Hằng Nga, liền bay đến rút trấn Thanh kiếm tính tự sát. Cảnh tình căng thẳng, Hà Bá mới hiểu lẽ nên đòi chết thay cho Hằng Nga. Vừa lúc đó Hậu Nghệ cũng lên tới trời bị Vương phát hiện Bà lập kế kêu Hậu Nghệ làm một việc cho Hắng Nga: Là Hậu Nghệ phải tới thủy đạo ngầm ở tại chân trời gốc của Biển, ở chốn Đông Tây, nơi quỷ thần giao giới, lấy cho Bà một gáo nước. Đó là chỗ cây cột Trời Cộng Công đã sô ngã Bất Châu Tiên. Ở đó Trời đất nghiên về phía đông nước chảy về phía đông, tinh tú đông thăng tây di. Nước ở chỗ đó là thần thủy cũng là đồng thủy. Chỉ cần linh khí ở trong nước đủ mạnh lập tức có thể dung hòa, hóa giải độc tánh. Bà còn nói trước khi lấy nước Hậu Nghệ phải uống thử coi có nước đó như Bà nói không. Vương mẫu muốn lừa dối Hậu Nghệ là lấy linh thủy đó để luyện tiên đơn có công lực mạnh hơn Bàng Đào của Tây Vương mẫu. Để Vương mẫu địch với Tây Vương mẫu. Thật ra, đó là nước vong tình thủy. Uống vào mất trí nhớ, quên hết quá khứ. Bà bịa chuyện ra như vậy để gạc Hậu Nghệ mà thôi.
Tự sát không xong mà Hằng Nga củng không biết tung tích Hậu Nghệ ở đâu nên suốt ngày buồn bả. Thấy vậy Tây Vương mẫu nghĩ ra cách hỏa kiếp để giúp Hằng Nga giáng phàm để đi tìm Hậu Nghệ. Tây Vương mẫu cũng rất đắn đo bởi vì trải qua hỏa kiếp, phải trải qua sanh lão bệnh tử nếu không khéo thì Hằng Nga sẽ tan thành mây khói. Khi chuyển thế làm người trong vòng bảy bảy bốn mươi chín ngày phải tìm cho được chân ái thì mới kể như công đức viên mãn, nếu trong tình thế đó có chút trở ngại thì Hằng Nga sẽ trở thành tro bui, tiêu diệt ở trần thế, dù cho trời đất có trùng phùng cũng không cứu được Hằng Nga. Hằng Nga một mục quyết chí hạ phàm đi tìm Hậu Nghệ.
Trước tiên Tây Vương mẫu cho Hằng Nga uống tán Tiên Thủy để giúp cho Hằng Nga thích ứng được tam vị chân hỏa. Có thể từ từ bớt tiên khí. Khi trừ tiên khí đi thì tinh hư hao cho nên phải bổ xung quỳnh hương ngọc lộ thì Hằng Nga không còn giống như ngày xưa không ăn không uống nữa. Cửu Mặt trời đã hy sinh nguyên thần để luyện tam vị chân hỏa cho Hằng Nga.Khi Hằng Nga uống tam vị chân hỏa phải chịu qua cái nóng kinh khủng xuyên qua thân hình thái dương trong ngòai như đốt, hao tận tiên khí mới trở thành trần gian. Ngọc Đế còn phải động lòng mà khuyên Hằng Nga : '' Chân ái nan tầm đó''. Ngọc Hòang giúp cho Hằng Nga hạ phàm. 
Khi Hằng Nga hạ tới phàm gian thì Hậu Nghệ bị uống Vong tinh thủy mất hét ký ức trong lúc đi lấy thần thủy gặp nạn. Hà Bá thì bản tính nhân từ nhưng Đại mặt Trời khống chế, không tự chủ được. Há Bá yêu thương Hằng Nga với lòng ganh tị nên càng làm cho Hằng ở trần giang gặp phải gian khổ trùng trùng. Thời gian 49 ngày của Hằng Nga ở trần gian đã tới, nhưng chân ái vẫn chưa đoàn tụ được. Trong lúc sắp tan thành mây khói mà lòng luôn lo nghĩ cho Hậu Nghệ vì thân bất do kỷ. 
Hằng Nga đoạn trường như thế mà cũng phải gánh chịu nghiệp tan thành mây khói. Lúc đó Ông Cửu mặt trời đem tiên dược xuống cho Hậu Nghệ ăn để phục hồi trí nhớ.  Khi nhớ lại mọi chuyện, Hậu Nghệ dùng hết chân tình của mình lại bắt thang lên Trời tìm Tây Vương mẫu cứu Hằng Nga. Sau khi bị một trận đòn nên thân Tây Vương Mẫu cho biết là trong vòng bảy ngày phải tìm cho được nguyên thần của Hằng Nga đồng thời Hậu Nghệ phải chịu phân thân ra thì mới cứu sống được Hằng Nga. Hằng Nga được các Tiên Điệp, Phục Hy, Lạc Tân giúp tìm lại được nguyên thần. Cuối cùng Hằng Nga được sóng lại. Nhưng Hai người còn phải đươn đầu với Thiên Hậu và nỗi khốn khổ chúng sanh. Bởi vì Thiên Hậu Nghĩa Hòa đã lập lời nguyền trừ khi Hằng Nga và Hậu Nghệ thành tiên trở lại đời đời kiếp kiếp không thể tương tụ. Lúc vĩnh tuyệt đó cũng là ngày Bà thất bại diệt thế với cách tái tạo nhân gian. Kiếp số ở nhân gian cũng kiếp của Hằng Nga, Hậu Nghệ trải qua. Trong lúc lập thề nguyền, Bà cấm quả cung tiển ở hai nơi. Mũi tên cắm ở cực âm, quả cung cắm ở cực dương. Cần Hai người phải chia cắt hai nơi đồng tâm rút lên cùng một lúc. Có như vậy mới hóa giải lời nguyền của Thiên Hậu. Đó là mạng số của hai người. Hằng Nga, Hậu Nghệ nuốt hai viên tiên dược: một âm một dương. Một nam, một bắc để hộ thân lấy khí thế rút quả cung quyết tiển ra.  Uống xong tiên đơn, Hằng Nga bay đế chỗ cực âm để rút mũi tên, còn Hậu Nghệ đến chỗ cực dương để rút hỏa cung. Khi hai người lấy được hỏa cung tiển  thì đó cũng chính là ngày Hằng Nga, Hậu Nghệ vĩnh tuyệt. Hằng Nga sẽ bay lên nguyệt cung còn Hậu Nghệ đi bắn mấy Ông mặt trời. Nhưng Hậu Nghệ đựợc Cửu mặt trời tiếp tay nên chỉ bắn được chín Ông mặt trời còn lại một Ông thập mặt trời út mà thôi. Vậy mà Thiên Hậu còn muốn tái tạo để diệt trùng tạo nhân thế.  Bà muốn làm quyền cả thế gian.Ông thập mặt trời út bây giờ cũng không đồng tình với Bà nữa.Ông mặt trời út nói ngày xưa những tưởng:'' trật tự tại thiên thượng nhân gian đều ai trị bằng quyền lợi nhưng từ khi thấy Hằng Nga, Hậu Nghệ vì muốn cứu chúng sanh nên đành phải chịu chia cắt. Từ đó cảm nhận được nhân gian hữu tình. Nhưng Thiên Hậu lại vô tinh?...'' Và cũng từ đó Hậu Nghệ  mãi mãi sẽ ở lại nhân gian. Còn  Thiên Hậu bị Thiên Đế trục xuất vào đông không đáy để hối lổi. Ông Mặt Út được Thiên điều đi thái dương cung để chiếu sáng nhân gian. Hằng Nga Bôn Nguyệt, Hậu Nghệ  xạ dịch, hai người đã hy sinh hạnh phúc riêng của mình đổi lại sự sống cho thế gian. Từ đó trần gian mới có ngày có đêm. Đó là do công của hai người nguyện trở thành phụng hoàng trong biển lửa, cùng sống bên nhau, cùng chết bên nhau. Thiên Đế đến đối với sự hy sinh của Hậu Nghệ và Hằng Nga vô cùng cảm động cho nên thỏa mãn yêu cầu của Phục Hy để cho Hằng Nga, Hậu Nghệ có tái phục duyên phu thê. Truyền thuyết Hằng Nga, Hậu Nghệ cứu thế, mối tình đến chết không phai của họ đã được Lưu An ghi chép. Nhưng mà thật đáng tiếc, Quyển Sanh Hòang Nam Tử chỉ còn có Nội Hiệp Nhất Huy còn những phần khác đều bị mất hết

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

VUA BẢO ĐẠI



Bảo Đại (chữ Hán: 保大; 22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997) là vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua.

Thuở nhỏ
Ông hoàng Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (阮福永瑞), còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển (阮福晪), tục danh "mệ Vững" sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 (ngày 23 tháng 9 năm Quý Sửu) tại Huế, là con của vua Khải Định và Từ Cung Hoàng thái hậu. Về thân thế của Bảo Đại vẫn còn nhiều nghi ngờ, vì vua Khải Định bị mang tiếng là bất lực và không thích gần đàn bà

Ngày 28 tháng 4 năm 1922, Vĩnh Thuỵ được xác lập Đông cung Hoàng Thái tửNgày 15 tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thuỵ cùng vua cha Khải Định sang Pháp để thưởng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille, Pháp. Tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trườngSciences Po (École libre des sciences politiques), Paris.

Tháng 2 năm 1924, Vĩnh Thụy về nước để dự Lễ Tứ Tuần Đại Khánh vua Khải Định, đến tháng 11 năm 1924 trở lại nước Pháp để tiếp tục học.
Vua Khải Định mất ngày 6 tháng 11 năm 1925, Vĩnh Thụy về nước thọ tang vua cha và ngày 8 tháng 1 năm 1926, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm vua lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục học tập. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Sau 10 năm đào tạo ở "Mẫu quốc" ngày 16 tháng 8 năm 1932, Bảo Đại cùng triều quan, xuống tàu "Đác ta nhăng" (D artagnan) về nước. Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ Nam triều. Văn bản này hủy bỏ "Quy ước" ngày 16 tháng 11 năm 1925 lập ra sau khi Khải Địnhchết.
Lên ngôi :Bảo Đại trong lễ phục nhân dịp tấn phong Đông cung Thái tử
Tháng 9 năm 1932, Bảo Đại hồi loan trở về nước, chính thức làm vua. Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính...Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy... Ngày 8 tháng 4, năm 1932, Bảo Đại đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Đằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực là Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ngự du Bắc hà thăm dân chúng.

Ngày 20 tháng 3 năm 1934, Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến vua Khải Định, các vợ vua chỉ được phong tước Hoàng phi, sau khi mất mới được truy phong Hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công giáo và mang quốc tịch Pháp.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.

Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.

Thoái vị
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Chiều 30 tháng 8, Bảo Đại đã trao quốc ấn và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Huy Liệu. Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng "Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ".

Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức "Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam", ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh thăm viếng Trung Hoa, nhưng ông không trở về nước, mà về Côn Minh rồi Hương Cảng. Tại Côn Minh, ông đã tiếp xúc với nhiều giới chính trị, trong đó có người Mỹ. Đại Tướng Marshall, đại diện Hoa Kỳ, đã đem bản giao ước với Bảo Đại về trình Tổng thống Harry S. Truman. Bảo Đại bèn viết thư về nước xin từ chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Làm Quốc trưởng

Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại". Có ý kiến cho rằng việc này nhằm chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh, cũng có ý kiến cho rằng giải pháp Bảo Đại được đưa ra nhằm phản ứng với xu hướng quốc tế trao trả độc lập cho các thuộc địa đồng thời nhằm chống lại sự mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương. Còn bản thân Bảo Đại nhận xét rằng "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."

Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới "không phải là người cộng sản", Mỹ ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương.

Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập. Để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam, các lực lượng chính trị bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân đảng liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất.

Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, mặc dù nghĩa chính xác của từ "độc lập" và các quyền hạn cụ thể của chính phủ mới vẫn chưa được xác định. Chính phủ hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ và bản "Thanh niên Hành Khúc" với lời nhạc mới làm quốc ca Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải "sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp".Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất chỉ trích.

Ngày 24 tháng 4 năm 1948, thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu cũng bay tới Hồng Kông để gặp Bảo Đại xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam, ngày 15 tháng 5, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam do tướng Xuân điều khiển "để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế".

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, để đàm phán về nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt - Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.

Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệuHoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1949, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức, Chính phủ Lâm thời Nam phần tuyên bố giải tán. Ngày 21 tháng 6, thỏa ước Elyseé được công bố.

Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc Gia Việt Nam.Pháp chuyển giao trên danh nghĩa những chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam một cách chậm chạp. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.
Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng, trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (Có tài liệu ghi Bảo Đại là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân là phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng.

Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, giải tán chính phủ Nguyễn Phan Long và ủy nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập chính phủ mới.

Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quan và tài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Các quan chức Pháp phàn nàn về Bảo Đại: "Ông ấy tập trung quá mức vào việc lấy lại từ chúng tôi những gì có thể thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ nhân dân ... Lịch sử sẽ phán xét ông ấy vì quá chú tâm vào chuyện này". Tuy nhiên người Pháp vẫn giành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp còn có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.
Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt.Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng tồn tại đến ngày 6 tháng 6 năm 1952 thì phải cáo lui, nhường chỗ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm thủ tướng cùng thành phần tổng, bộ trưởng đa số là người do Pháp đào tạo.

Ngày 20 tháng 11 năm 1953, hoàng thân Bửu Lộc từ Pháp về Sài Gòn lập chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Thời gian này, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn Ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện", lại có cả một đội máy bay riêng do cácphi công người Pháp lái phục vụ.

Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Chính phủ mới do Bửu Lộc thành lập trình diện Bảo Đại nhưng đến ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệmvề nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới.

Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, chính quyền và quân đội Quốc gia Việt Nam tập kết ở miền Nam Việt Nam chờ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam.

Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ chính phủ lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 9 năm 1954 và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 5 năm 1955.

Tháng 9 năm 1954, tướng Nguyễn Văn Hinh không chịu dưới quyền chỉ huy của Ngô Đình Diệm nên đánh điện sang Pháp nhờ Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại điện về Sài Gòn triệu tập Diệm sang Cannes gặp Bảo Đại để bàn lại việc sắp xếp nhân sự nhưng Diệm không đi. Bảo Đại quyết định điện về Sài Gòn cách chức thủ tướng của Ngô Đình Diệm.

Tuy nhiên, ngày 4 tháng 10 năm 1955, Ủy ban trưng cầu dân ý thành lập đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng. Khi cử tri đi đến nơi bỏ phiếu, họ thấy rằng nơi đây đã bị những người ủng hộ Ngô Đình Diệm kiểm soát. Một cử tri sau khi bỏ phiếu đã nói rằng "Người chỉ đạo nói cho chúng tôi hiểu rằng ở đây chỉ có hai sự lựa chọn, hoặc là phiếu đỏ (Ngô Đình Diệm) sẽ được bỏ vào hòm phiếu hoặc phiếu xanh sẽ bị loại đi".[cần dẫn nguồn] Trong trường hợp này Bảo Đại đã mất cơ hội trở về chính quốc với 5.721.735 phiếu truất còn Ngô Đình Diệm được suy tôn lên chức vị Quốc trưởng, Bảo Đại sống lưu vong ở Pháp khi mới 40 tuổi cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 tại Paris.
Cuộc sống lưu vong Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có hạng. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương Hoàng hậu qua đời ở Chabrignac. Năm 1982, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại kết hôn với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946). Bảo Đại nhập đạo Công giáo lấy tên thánh là Jean-Robert.

Trong thời gian này, ảnh hưởng của Bảo Đại tại các khu vực như Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế vẫn còn rất lớn. Chính vì vậy phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã phái các đại diện sang Pháp nhằm thuyết phục Bảo Đại tham gia một chính phủ liên hiệp nhằm thống nhất Việt Nam, nhờ đó thông qua Bảo Đại thì miền Bắc có thể thu hút thêm những người ủng hộ tại các địa phương mà Bảo Đại có ảnh hưởng. Dưới ảnh hưởng của các cuộc gặp mặt này, trong những buổi phát biểu công khai Bảo Đại đã thể hiện lập trường chống lại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, chỉ trích chính phủ Nguyễn Văn Thiệu và kêu gọi thành lập một chính phủ liên hiệp tự do, trung lập và hòa bình tại Việt Nam[cần dẫn nguồn].

Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster, California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố. Ông cũng thăm viếng và chúc mừng các buổi lễ của cộng đồng Phật giáo và Đạo Cao đài người Việt ở California cùng các cộng đồng người Mỹ gốc Việt ởTexas. Bảo Đại cũng nhân dịp này thăm dò ý kiến của các cộng đồng người Việt sống ở Hoa Kỳ, từ đó tìm ra giải pháp cho việc hòa giải dân tộc.

Tang lễ : Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất nhà Nguyễn. Ông qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâcehưởng thọ 85 tuổi. Ông cũng là một phế đế sống thọ nhất trên thế giới thời hiện đại. Trước đó ông có nhận lời về tham dự Hội nghị thượng đỉnhCộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội vào 1997

Đám tang Bảo Đại được tổ chức một cách lặng lẽ vào lúc 11 giờ ngày 6 tháng 8 năm 1997 tại nhà thờ Saint-Pierre de chaillot số 35 đại lộ Marceau, quận 16 Paris và linh cữu được mai táng tại nghĩa địa Passy trên đồi Trocadero.

Trả lời BBC về sự kiện này, bà Monique nói "Ngày hôm nay tôi rất đau buồn. Dĩ nhiên rồi, trước hết và trên hết là vì chồng tôi vừa qua đời. Nhưng hôm nay trang sử của triều Nguyễn Việt Nam cũng được chấm dứt. Tôi cầu nguyện cho chồng tôi".

Vợ và tình nhân
Theo tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang, trong cuốn Giai thoại và sự thật về Bảo Đại, vua cuối cùng Triều Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2006, thì những người vợ và tình nhân của Bảo Đại gồm:

1. Nam Phương Hoàng Hậu, quê Gò Công, Tiền Giang, Việt Nam, có hôn thú, có 5 người con

2. Bùi Mộng Điệp, quê Bắc Ninh, không hôn thú, có 3 người con

3. Lý Lệ Hà, quê Thái Bình, vũ nữ, không hôn thú, không có con

4. Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong), vũ nữ Trung Hoa lai Pháp, không hôn thú, có 1 con gái

5. Lê Thị Phi Ánh ở Huế, không hôn thú, có 2 người con

6. Vicky (Pháp), không hôn thú, có 1 con gái

7. Clément(?), vũ nữ và buôn lậu ở xóm Cigalle (Pháp), không hôn thú

8. Monique Marie Eugene Baudot (Pháp), có hôn thú, không có con

Các con

Vua Bảo Đại có 8 người vợ, tình nhân và có 13 người con.
Với Nam Phương Hoàng hậu

1. Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1936, mất ngày 28 tháng 7 năm 2007

2. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Mai,sinh ngày 1 tháng 8 năm 1937 tại Đà Lạt

3. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Liên, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1938

4. Công chúa Nguyễn Phúc Phương Dung, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1942

5. Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Thắng, sinh ngày 9 tháng 12 năm 1943
Với bà Mộng Điệp

1. Nguyễn Phúc Phương Thảo, sinh năm 1946

2. Nguyễn Phúc Bảo Hoàng, sinh năm 1954

3. Nguyễn Phúc Bảo Sơn, sinh năm 1957Với bà Hoàng Tiểu Lan

1. Nguyễn Phúc Phương An
Với bà Phi Ánh

1. Nguyễn Phúc Phương Minh

2. Nguyễn Phúc Bảo Ân
Với bà Vicky

1. Nguyễn Phúc Phương Từ

Bảo Đại còn có một người con do bà Từ Cung nuôi, nhưng không rõ là con bà nào do ông không tiết lộ.

Câu nói nổi tiếng

§ Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta.phát biểu khi từ chối sự bảo vệ của quân Nhật chống lại nguy cơ đảo chính của Việt Minh

§ Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.
§ Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp.

§ Đã đến lúc kết thúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn và ít nhất là phục hồi hòa bình cùng sự hòa hợp. phát biểu năm 1972 nhằm kêu gọi hòa bình và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam

§ Xin cho tôi được sống và chết trong bình yênTiền đồng "Bảo Đại thông bảo"

Tiền đồng Bảo Đại thông bảo (保大通寶) là loại tiền đồng Việt Nam kiểu cổ sau cùng được chế tạo. Có ba loại tiền Bảo Đại Thông bảo: loại tiền đúc cỡ nhỏ, loại tiền đúc cỡ lớn mặt sau có nổi chữ "mười văn" và loại tiền đúc lớn có mặt sau "trơn". Tất cả được phát hành vào năm 1933.
§ 保大通寶 (1926-1945)


Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

LÊ THÁI TỔ - LÊ LỢI

Lê Thái Tổ (黎太祖), húy Lê Lợi (黎利). là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh trở thành vị vua đầu tiên của vương triều nhà Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam (tính cả Lê sơ và Lê Trung hưng). Ông sinh giờ tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385 đời nhà Trần.
Tổ bốn đời của Lê Lợi là Lê Hối, người Thanh Hóa. Một hôm đến vùng núi Lam Sơn thấy cảnh đất lành chim đậu, ông dời nhà về đây. Lê Hối lấy bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên, sinh ra Lê Đinh, tức là ông nội của Lê Lợi. Lê Đinh lấy bà Nguyễn Thị Quách sinh ra hai người con là Lê Tòng và Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương sinh được ba người con: Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi.Bối cảnh lịch sử:
Sau khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.

Triều đình nhà Minh (Trung Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Vương triều Hồ và nước Đại Ngu sụp đổ.
Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền Văn minh sông Hồng bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm, các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn hóa Việt, nên việc làm của nhà Minh đã đem lại một kết cục xấu cho sự đô hộ của họ.

Khởi nghĩa Lam Sơn
 Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn Trãi Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú,... tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19 người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416), chính thức phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Đồng thời ông tự xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước.
Gian nan ở vùng núi Thanh Hóa
 Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi chỉ còn một mình trốn chạy.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. Một lần bị quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, tướng dưới quyền là Lê Lai theo gương Kỷ Tín (tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang thờichiến tranh Hán-Sở) phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam Sơn nên lơi lỏng phòng bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường khác chạy thoát. Lê Lai bị quân Minh giải về Đông Quan và bị giết.
Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều gian nan, quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao. Tuy nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngựa chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.
Tiến vào nam
Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ thành Đa Căng, đánh lui quân cứu viện của viên tù trưởng địa phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau đó quân Lam Sơn đánh thành Trà Long (hay Trà Lân). Tướng Minh là Trần Trí mang quân từ Nghệ An tới cứu Cầm Bành, bị quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm Bành, Trí đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày, Bành phải đầu hàng.
Lê Lợi sai Đinh Liệt mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực cùng tiến vào, Trần Trí bị thua liền mấy trận phải rút vào thành cố thủ.
Lý An, Phương Chính từ Đông Quan vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng mang quân ra ngoài đánh. Lê Lợi dùng kế nhử đối phương đến sông Độ Gia phá tan. Trần Trí chạy về Đông Quan, còn An và Chính lại chạy vào thành Nghệ An.
Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lý Triện tiếp ứng choĐinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hoá. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lai sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.

Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.

Chiến thắng Tốt Động-Chúc Động

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ,Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Lý Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trần Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Lý Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra bắc.
Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lý Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lý Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động.Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 35 vạn, ông dự định sẽ cho 15 vạn về làm ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân.

Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.
Lập Trần Cảo
Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công.

Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.
Vây thành Đông Quan
Sau khi cắt đứt giảng hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.
Đầu năm 1427, ông chia quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề, sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.
Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ đối phương ở các thành khác ra hàng.
Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.
Chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang
Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên cứu, con số 15 vạn của cả hai đạo quân có thể là nói thăng lên, trên thực tế nếu cộng số các đạo quân điều động từ các nơi thì tổng số chỉ có khoảng gần 12 vạn quân và cánh quân chủ lực là của Liễu Thăng.

Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan. Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành là hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng đối phương ở Đông Quan.
Đầu tiên, ông ra lệnh dời người ở những vùng đối phương đi qua như Lạng Giang, Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập đối phương. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ không đánh.
Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.
Các tướng thừa dịp xông lên đánh quân Minh, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết.

Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.
Bình Ngô đại cáo
Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong thành Đông Quan hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh Tuyên Tông biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.
Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết họ để trả thù tội ác đối với người Việt trong suốt thời gian Việt Nam dưới ách đô hộ của triều Minh, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về.
Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh[10]. Đây là áng văn chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam quốc sơn hà.
Lên ngôi vua
Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam. Theo sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (phủ Trấn Ninh), nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng của Lê Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần thiết. Ngay nhà Minh, khi xâm lược Việt Nam lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ và rõ ràng không thực bụng. Nhà Minh lấy cớ lập con cháu nhà Trần nhưng lại đàn áp nhà Hậu Trần. Việc đó đã bị Nguyễn Biểu, sứ giả của vua Hậu Trần Trùng Quang Đế bóc trần.
Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên vương triều nhà Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh vào năm Thuận Thiên thứ hai (1430).

Lê Thái Tổ sai sứ sang Trung Hoa cầu phong, nhưng nhà Minh không chịu, bắt phải tìm con cháu nhà Trần lập làm vua. Sứ nhà Minh đi về hai ba lần, sau vua Thái Tổ sai các viên quan phụ lão trong nước làm tờ khai rằng con cháu vua Trần thật sự không còn ai nữa, và xin phong cho Lê Lợi làm vua nước Nam. Vua Minh thấy vậy mới thuận nên phong vương cho ông.
Trị vì:Thời kỳ dựng lại quốc gia Đại Việt của Lê Lợi thật khó khăn, do hậu quả tận diệt Văn hóa Việt của nhà Minh trước đó. Các tài liệu, thư tịch, văn học, nghệ thuật bị tàn phá nặng nề; các học giả và người tài của Đại Việt bị bắt đem về Trung Quốc,… Nhưng sức bật của một nền văn minh có gốc rễ sâu bền là đáng kinh ngạc.

Ngoài xây dựng kinh tế, nhà Lê còn phải đối phó với bạo loạn trong nước. Năm 1430, Lê Thái Tổ sai Thái tử Lê Tư Tề đi dẹp loạn tù trưởng Đèo Cát Hãn. Cát Hãn và con trai là Đèo Mạnh Vượng ra hàng.

Khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã chia nước ra làm bốn đạo, nay lại đặt thêm một đạo nữa gọi là Hải Tây đạo, gồm cả Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Trong các đạo, đạo nào cũng có quan Hành khiển để giữ sổ sách về việc quân-dân. Còn như các xã-thôn thì cứ xã nào có hơn 100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã, đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là tiểu xã, đặt một người xã quan để coi việc trong xã.

Về việc học hành, trường Quốc Tử Giám ở đất kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ. Rồi lại bắt các quan văn vũ từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh kinh khoa, nghĩa là quan văn thì phải thi kinh sử, quan vũ thì phải thi vũ kinh. Ở các lộ cũng mở khoa thi Minh kinh để cho những người ẩn dật ra ứng thí mà chọn lấy nhân tài.

Những người theo đạo Phật, đạo Lão cũng phải thi kinh điển những đạo ấy; hễ ai thi đỗ thì mới được làm sư hoặc làm đạo sĩ, ai thi trượt thì phải về quê làm ăn.

Về luật pháp, Lê Thái Tổ cho đặt ra bộ luật mới theo như hình luật của nhà Đường: có tội xuy, tộ trượng, tội đồ, tội lưu và tội tử.

Về kinh tế, bấy giờ thường những người không công lao thì lắm ruộng nhiều nương, mà những kẻ phải đánh đông dẹp bắc, lúc về không có đất. Vì thế ông định ra phép quân điền để lấy công điền, công thổ mà chia cho mọi người, từ quan đại thần cho đến những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng, khiến cho sự giàu nghèo ở trong nước khỏi chênh lệch.

Thảm sát công thần, thay ngôi thái tử
 Nhà Hậu Lê hình thành và lập tức việc tranh chấp quyền lực giữa các phe cánh bắt đầu nảy sinh, xuất phát từ nhiều lý do. Một lý do là sự mâu thuẫn giữa những người đồng hương hoặc ít nhiều có thân thích với vua và những người có gốc tích từ các vùng khác. Lý do thứ hai là mâu thuẫn giữa các công thần trong việc lập tranh ngôi thái tử giữa con trưởng là Lê Tư Tề và con thứ là Lê Nguyên Long.

Phe Lê Sát ủng hộ người con thứ Nguyên Long trong khi các tướng xuất thân từ kinh đô như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn ủng hộ Tư Tề. Năm 1429, Lê Thái Tổ tin lời gièm pha nghi Phạm Văn Xảo làm phản nên bắt giết. Sau đó lại có người tố cáo Trần Nguyên Hãn tích trữ vũ khí làm phản. Lê Thái tổ sai người đi bắt. Thuyền đến giữa dòng, Trần Nguyên Hãn kêu vô tội và nhảy xuống sông tự vẫn. Nguyễn Trãi là anh em cô cậu với Trần Nguyên Hãn cũng bị bắt giam một thời gian, sau vì không có bằng chứng buộc tội nên được thả ra.

Người con cả Lê Tư Tề bị kết luận “mắc chứng điên khùng” nên bị phế truất. Con thứ Lê Nguyên Long được lập làm thái tử.

Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng những sự kiện trên thực chất là kết quả của sự thắng thế của phe Lê Sát trong triều đình mà thôi. Hơn nữa, những hành động của vua Thái Tổ để bảo vệ sự thống trị của nhà Lê cũng mang tính hệ thống. Đầu tiên là giết Trần Cảo. Sau đó giết Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần. Cuối cùng là lấy lý do mẹ của thái tử Nguyên Long có tên là Phạm Thị Ngọc Trần (đã mất năm 1425) nên bắt những người họ Trần phải đổi sang họ Trình để kiêng huý. Tất cả những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ hết sự nhớ tiếc nhà Trần. Và Lê Tư Tề cũng là nạn nhân trong đó.

Vua Lê Thái Tổ ở ngôi được 6 năm thì qua đời vào ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433, hưởng thọ 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.

Lê Thái Tổ được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lê Thái Tông.

Thụy hiệu do Lê Thái Tông đặt cho ông là Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế.

Về công lao, sự nghiệp
 Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về Lê Thái Tổ:
Vua hăng hái dấy nghĩa quân đánh dẹp giặc Minh. Sau 10 năm thì thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu nhập sách vở, mở mang trường học, có thể gọi là có mưu kế xa rộng mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém

Lê Lợi là vị vua có công đánh đuổi quân Minh, chấm dứt 20 năm Bắc thuộc lần thứ tư và sáng lập nhà Hậu Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ 10, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự đô hộ của Trung Quốc thời phong kiến.

Bởi công lao đó của ông nên đời sau còn nhớ nhà Lê khi bị nhà Mạc thay ngôi và đó là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Họ Trịnh làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của nhà Lê.

Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.

Đến cuối đời ông đã có những quyết định sai lầm dẫn đến cái chết của những trung thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Từ trước khi về trí sĩ, Trần Nguyên Hãn đã nói riêng với người thân cận:

Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui sướng được.

(Việt vương Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với Nguyễn Trãi.)

Tuy nhiên, xét về tổng thể Lê Lợi vẫn là một vị vua có công lớn trong việc đuổi quân Minh, giành lại độc lập dân tộc Việt Nam.

Điểm giống với Hán Cao Tổ: So với Hán Cao Tổ (Lưu Bang), vị hoàng đế sáng lập nhà Tây Hán, cuộc đời sự nghiệp của Lê Thái Tổ có nhiều điểm trùng hợp nhau:

 Cả hai vua đều là con thứ ba trong nhà. Trên Lưu Bang có Lưu Bá, Lưu Trọng. Trên Lê Lợi có Lê Học, Lê Trừ.

 Cả vua Lê và vua Hán đều xuất thân từ người áo vải, khởi nghĩa gặp rất nhiều gian nan trong nhiều năm đầu, về sau mới thuận lợi.

 Khi gặp gian nguy, Lưu Bang phải nhờ Kỷ Tín ra hàng, lừa đối phương và bị Hạng Vũ giết. Lê Lợi cũng phải nhờ có Lê Lai theo gương Kỷ Tín để thoát nạn, Lê Lai bị quân Minh giết.

 Sau khi lên ngôi, hai vua đều giết công thần khai quốc.

 Về sau, cơ nghiệp của hai vua đều bị họ khác cướp ngôi con cháu, nhà Hán và nhà Lê đều bị gián đoạn một thời gian: nhà Tây Hán bị nhà Tân của Vương Mãng cướp ngôi còn nhà Lê bị nhà Mạc của Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Tuy nhiên, cả hai triều đó đều hồi phục lại được. Nhà Đông Hán kế tục nhà Tây Hán và nhà Lê được trung hưng.

 Sau khi qua đời, cả hai vua đều được đặt chữ "Cao". Lưu Bang là (Cao Tổ) Cao hoàng đế, Lê Lợi là (Thái Tổ) Cao hoàng đế.

Các Truyền Thuyết

Gươm thần Thuận Thiên

Hồ Hoàn Kiếm ( Hồ Gươm), nơpi có huyền thoại Lê Thái Tổ trả gươm cho rùa vàng
Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi chép:

Khi ấy Nhà-vua cùng người ở trại Mục-sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma-viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ) nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

- Sắt nào đây?

Thận nói:

- Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".

Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm.

Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.

 
Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh làm vua
 
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa Vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

- Hãy trả gươm thần cho ta!

Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Thủy Quân được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.

Có thuyết khác nói khác về truyện trả gươm. Đại ý khi thuyền của vua ra giữa hồ thì rùa vàng chắn trước. Vua Lê rút gươm chỉ vào Rùa Vàng, Rùa Vàng liền đớp lấy gươm của vua mà bơi đi. Vua Lê sai tát cạn hồ Thủy Quân để tìm lại gươm báu nhưng không thấy rùa đâu.
 Hồ ly phu nhân
 Truyền thuyết kể rằng thời quân Lam Sơn chưa mạnh, Lê Lợi bị đánh bại, tướng sĩ chạy tan tác mỗi người một nơi. Bị quân Minh đuổi, Lê Lợi trốn vào rừng, trông thấy xác một cô gái chết trên bãi cỏ. Ông rút gươm đào tạm một cái huyệt chôn cô gái và cầu khấn người chết phù hộ để thoát nạn.

Quân Minh đuổi tới gần, Lê Lợi vội trốn vào một gốc cây to rỗng ruột, xung quanh là cỏ mọc cao. Quân Minh cho chó sục sạo, đánh hơi đến gốc cây. Thấy chó sủa ở gốc cây, quân Minh đâm bừa ngọn giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Ông vội lấy vạt áo chùi vết máu ở mũi giáo. Quân Minh rút giáo ra không thấy gì nhưng chó vẫn sủa. Quân Minh định dùng lửa đốt cây thìtrong gốc cây có con cáo trắng chạy ra, chó săn ùa theo đuổi bắt. Quân Minh tưởng là chó sủa vì con cáo nên bỏ đi

Lê Lợi thoát nạn, cho rằng linh hồn người con gái đã chết hóa thành cáo cứu mình. Ông đến nấm mộ cô gái vái tạ. Sau này lên ngôi vua, ông truy tặng cô gái là Hồ ly phu nhân.

Một thuyết khác cho rằng Lê Lợi chạy trốn cùng một người thân cận là Lê Tá, gặp xác cô gái mặc đồ trắng trôi trên bờ sông. Hai người vội vớt xác lên chôn cất tạm và trốn vào gốc cây rỗng ruột. Quân Minh dùng chó sục sạo đến gốc cây rồi đâm giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Lê Tá vội lấy áo lau máu trên giáo. Quân Minh định phóng ngọn giáo nữa vào thì thấy một con cáo trắng trong bụi chạy ra, đàn chó cùng nhau đuổi theo. Quân Minh tưởng là chỉ có cáo trong cây nên bỏ đi. Lê Lợi và Lê Tá cho rằng con cáo chính là linh hồn người con gái đã cứu mình.

Sau ngày thắng lợi, Lê Thái Tổ lập miếu thờ người con gái, sắc phong là Bạch y thần nữ, con cáo trắng được phong là Bạch hồ thần nữ, gốc cây cổ thụ được phong là Dung thụ đại vương.

Cuối thế kỷ 18, Phạm Đình Hổ xác minh việc nhà Hậu Lê đã làm tượng thờ ân nhân của Lê Thái Tổ trong sân triều đình Lê - Trịnh:Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng "Hộ quốc phu nhân". Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm.



LÊ LAI

Lê Lai (chữ Hán: 黎來, ?-1418) là một tướng lĩnh của quân khởi nghĩa Lam Sơn, người đã hy sinh thân mình cứu chủ tướng Lê Lợi thoát khỏi vòng vây của quân Minh
Lê Lai người gốc Mường, thôn Dựng Tú, huyện Lương Giang (Thanh Hoá), là con của Lê Kiều, nối đời làm chức phụ đạo trong vùng.
Lê Lai tính tình cương trực, dung mạo khác thường, có chí khí. Ngay trước khởi nghĩa Lam Sơn ông đã theo hầu Lê Lợi có nhiều công lao. Năm 1416, ông cùng Lê Lợi và các tướng lĩnh khác tham gia Hội thề Lũng Nhai, thề sống chết có nhau, nguyện chung sức đánh đuổi quân Minh xâm lược.
Liều Mình cứu Chúa: Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông là tướng luôn ở bên cạnh, xông pha nhiều trận hiểm nguy. Bấy giờ quân Lam Sơn ít lính, thiếu lương, thường bị quân Minh đánh bại. Theo sáchĐại Việt thông sử, cuối tháng 4 năm 1418,Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp, Lê Lợi họp các tướng lại hỏi:
Có ai dám bắt chước Kỷ Tín đời Hán không?
Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói:
Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì xin nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi.
Lê Lợi rất thương cảm. Lê Lai nói:

Bây giờ đang nguy khốn, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi cùng bị diệt, sợ sẽ vô ích. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?

Lê Lợi vái trời khấn rằng: Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi và con cháu các tướng tá công thần, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn.
Lê Lai vâng mệnh mang 2 voi và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến. Quân Minh đổ ra đánh. Lê Lai thúc ngựa xông thẳng vào giữa trận hô to:
Ta là chúa Lam Sơn đây!
Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên xúm lại đánh kịch liệt. Lê Lai xung trận giết giặc rồi kiệt sức, bị quân Minh bắt và đem hành hình. Hôm ấy là ngày 29 tháng 4 âm lịch.

Lê Lợi nhân lúc việc vây hãm của địch lơi lỏng, cùng các tướng chạy ra đường khác, trốn thoát. Cảm động lòng trung nghĩa của ông, Lê Lợi sai người ngầm tìm được thi hài ông, mang về an táng ở Lam Sơn.

Nhưng Đại Việt Sử Ký toàn thư lại chép rằng Lê Lai đã thoát được quân Minh và Lê Lợi sau này vì tính đa nghi nên đã giết chết Lê Lai và nhiều công thần khác.

Đời sau tưởng nhớ: Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua, ông được truy tặng là "Sùng trung Đồng đức hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần", hàm thiếu uý, thuỵ là Toàn Nghĩa. Năm sau, Thái Tổ saiNguyễn Trãi viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của ông bỏ vào trong hòm vàng. Các đời vua sau tiếp tục phong tặng cho ông, cao nhất là năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong ông làm Trung Túc vương.

Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433, trước khi mất có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Từ đó dân gian truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi".
Phố được xây trên nền đất của hai thôn cũ là Vọng Hà và Hậu Bi thuộc hai tổng Tả Túc và Hữu Túc, đều thuộc huyện Thọ Xương. Phố có từ thời Pháp thuộc, được phân ra làm hai phố là Rue Dominé (đoạn từ Đinh Tiên Hoàng tới chỗ giao cắt Lý Thái Tổ - Ngô Quyền) và Rue Bonhour (đoạn từ đường Trần Quang Khải tới chỗ giao cắt Lý Thái Tổ - Ngô Quyền). Sau năm 1945, hai phố này được gộp làm một và được đặt tên là Lê Lai.
Cả nhà vì nước

Cả gia đình Lê Lai đều chết vì việc nước. Anh ông là Lê Lạn tử trận khi tham gia đánh ải Khả Lưu năm 1425.

Lê Lai có 3 con: Lê Lư, Lê Lộ, Lê Lâm, đều được Lê Lợi nuôi như con đẻ. Lê Lư tử trận khi vây thành Nghệ An năm 1425. Lê Lộ có công tham gia đánh bại các tướng Minh là Trần Trí và Phương Chính, rồi tử trận tháng 10 năm 1424. Lê Lâm sau khi khởi nghĩa thành công được xếp vào hàng công thần thứ ba. Năm 1430 Lê Lâm làm tiên phong đi đánh Ai Lao, đuổi giặc bị trúng chông độc tử trận.

Con Lê Lâm, cháu nội Lê Lai là Lê Niệm cũng là công thần nhà Lê. Năm 1460, ông có công cùng Nguyễn Xí, Đinh Liệt phế truất Lê Nghi Dân, đưa Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra Lê Niệm còn có công hai lần đánh Chiêm Thành năm 1446 và 1471. Trong trận năm 1471, ông cùng Đinh Liệt bắt được vua Chiêm là Trà Toàn.
Những Lê Lai khác
Theo sách Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc, sử sách, văn bia còn để lại một số nghi vấn về những nhân vật khác cũng có tên Lê Lai sống cùng thời khởi nghĩa Lam Sơn.
Sách Lam Sơn thực lục tục biên nêu trường hợp Nguyễn Thận người Mục Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá) là công thần khởi nghĩa Lam Sơn, được đổi sang họ Lê và tên Lai. Sách có đề cập đến một Lê Lai liều mình cứu chúa bị tử trận và sau đó nhân vật Nguyễn Thận này vẫn tiếp tục hoạt động. Như vậy đây là hai người khác nhau.

Văn bia ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) cũng đề cập đến một công thần khác của Lê Lợi cũng có tên là Lê Lai.
Một nguồn tài liệu khác lại cho rằng Lê Văn An, một công thần khác của Lê Thái Tổ cũng từng có tên là Lê Lai.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư phần bản kỷ, quyển số 10, trang 27b chỉ thấy chép : "Ngày 13 tháng giêng năm Đinh Mùi (1427) giết Tư Mã Lê Lai, tịch thu gia sản vì Lai cậy có chiến công nói năng khinh mạn ". Nên có giả thuyết rằng, Lê Lai may mắn sống sót sau khi cứu chúa, tiếp tục tham gia kháng chiến và bị chính Lê
Lợi ra lệnh giết về sau này.