Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện xửa chuyện xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện xửa chuyện xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Bao Lì Xì!



Truyện xưa kể, vào đêm ba mươi Tết có một con iu quái xuất hiện để sờ đầu các em bé làm cho em bé bị nóng sốt đôi khi dẫn đến tử vong. Có một phu nọ mới có một cậu con trai, bà thương yêu hết mực, đến đêm ban mươi bà rấtlo cho con trai của bà và canh chừng suốt suốt. Trong lúc mệt mỏi bà thiếp đi lúc nào không hay biết , thì có tám vị Tiên Nhân biết là Vị phu nhân này hay đi chùa Kính Phật có công đức nên âm thầm giúp Bà. Tám vị Tiên ấy lấy tám đồng tiền xu kết thành dây như chuỗi và gói vào một tấm vải đỏ làm một chút phép tiên vào đó rồi để trên đầu nằm của con trai vị phu nhân ấy. Đến khi bà tỉnh giấc thì Trời đã sáng. Bà hết lòng lo sợ vội vả sờ khắp người con trai vẫn bình yên vô sự lại còn thấy xâu chuỗi tiền vàng gói trong túi vải đỏ. Bà vui mừng khôn xiết xem đó như Lộc đầu năm nên nà đem chuyện ấy kể khắp xóm giềng.
Tục truyền từ đó về sau hễ tới đem ba mươi Tết các bậc Cha Mẹ học theo phu nhân gói một túi quà nhỏ nhỏ để trên đầu các trẻ nhỏ xem như ''lo lót'' cho Iu quái để con nhỏ được an tòan.
Từ tực truyền đó kéo dài tới bây giờ vào ngày mùng 1 Tết để một ít tiền vào một cái túi đỏ đỏ đặt tên cho nó là bao lì xì rồi treo tặng và chúch phúc cho nhau, ví như ''Xuân đáo bình an tài lộc tiến...'' vẫn xem đó là Lộc đầu năm. truyền mãi truyền mài....
Luungoctinhanh.

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

HẰNG NGA, HẬU NGHỆ





Truyền thuyết kể,từ thuở khai thiên lập địa đồng thời vũ trụ xuất hiện mười Ông Mặt Trời...Dân gian giống như lò lửa, sông cây khô cháy, người chết như rạ. Lúc đó có vị thần xạ thủ tên là Hậu Nghệ vì muốn giải cứu lê dân bá tánh, vươn cung xạ dịch bắn trúng chín Ông Mặt Trời. Và chính vì vậy động lên Thiên Đình. Vì muốn chuột tội, người vợ duy nhất của Hậu Nghệ là Hằng Nga đành phải bôn nguyệt thăng thiên, bỏ Hậu Nghệ ra đi. Cặp chồng kia mãi mãi xa cách. Vũ trụ sau nhiều thay đổi, đẩu chuyển tinh di người đời vẫn chưa quên cuộc tình đến chết chưa phai đó và đã đúc một đỉnh thật là to mang cốt truyện Hằng Nga Bôn Nguyệt, Hậu Nghệ Xạ Dịch ghi khắc lên đỉnh đó. Nhưng đáng tiết thế Nguyệt lưu triết, cái đỉnh to năm xưa không biết đã đi nơi nào và lịch sử trở thành truyền kỳ. Truyền kỳ lại thành truyện thần thoại. Thế độc đế Tôn của Hán Cao Tổ Hoài Nam Dương Lưu An cùng với ái thê Phương Hoa tuyệt đại của ông ta là Tòng Nguyệt suốt đời chìm đắm trong  những câu chuyện thần thoại. Hai vợ chồng Lưu An trải qua nhiều năm khảo cổ đào bới tìm kiếm, muốn mang tất cả những câu chuyện thần thoại sưu tập lại, soạn thành sách vở.
Một trận mưa lưu tinh đã làm cho Hán Võ đế thức dậy trong giấc mộng nhưng tai họa vô cùng tận đã tới cho Lưu An. Trong trận mua long trời lỡ đất đó, đất lở gần chỗ Lưu An đã lộ ra cái đỉnh to. Lưu An bảo biết đâu đây là cái đỉnh cổ của Nguyên đế mà dân gian hay đồn đãi. Trên đỉnh ghi chép truyền Hằng Nga Bôn Nguyệt để thực hiện Lưu An cần phải vui vẻ trong người nhưng không biết tại làm sao lại nổi lên sự đắn đo khó hiểu.
Lạc Phong Hầu Loan Đại có xích mích với Lưu An nên thường dùng những tà môn làm mê hoặc Võ Đế. Ông đã du cáo Lưu An có ý đồ bất chánh. Còn vợ chồng Lưu An thì không để ý tới cái chuyện đó. Ở trong lòng của họ Cổ đỉnh là Danh Vật không phải là thần khí hồ uất gì cả.  
Hán Võ Đế dưới sự chỉ dục của gian thần Loan Đại, trong ngày mừng thọ Hoàng Mẫu đã dùng đứa bé sơ sinh của thị vệ Thiên Tính Lưu An làm tế phẩm cúng tế, thậm chí ngay cả đồng nam đồng nữ dùng trong việc vận chuyển đỉnh đồng cũng không được may mắn. Cho nên nhất thời gió tanh mưa máu. Loan Đại rượt đuổi giết vợ chồng Lưu An đã bị sét đánh chết. Cũng trong trận loạn đó vợ của Lưu An bị thiệt mạng. Trước lúc lâm chung Nguyệt nhi còn nói với Lưu An là: nếu anh tìm em dưới đất không thấy thì hãy nhìn lên mặt trăng. Nguyệt nhi đã mơ tưởng rất nhiều về chuyện viết lại những tích mà hai vợ chồng đã tìm được. Lưu An đau buồn muốn tự sát nhưng Nguyệt Nhi hiện thân thì thầm với Lưu An là: Không lẽ anh quên rồi sao, không muốn đi với Tòng Nguyệt viếng cổ Thần Hoàng viết xong truyện của Hằng Nga và Hậu Nghệ hay sao?
-Lưu An nói: Anh đã hứa như vậy nhưng mà Nguyệt Nhi cổ đã chết rồi. 
-Nguyệt Nhi: không lẽ Nguyêt không còn sống trong lòng của anh. Trong lòng anh còn có Tòng Nguyệt.  Vương gia, Tòng Nguyệt chua chết cổ sống trong lòng của anh.
- Lưu An chợt hiểu ra,  và hứa với Nguyệt Nhi viết xong câu chuyện tình về Hằng Nga, Hậu Nghệ lưu truyền thiên cổ.
Lưu An và Tòng Nguyệt từ này thiên nhân khuyết nguyệt. 
Như được tiếp thêm nghị lực Lưu An cầm bút vừa viết vừa đọc.Cang cường... Hằng Nga, Tòng Nguyệt tuy mà một. Ở trong Bôn Nguyệt có ông ta. Lúc đó, Tòng Nguyệt hầu như đã sống lại thật sự. Hai người tiếp tục tình duyên truyền miên cả đời. Hằng Nga Bôn Nguyệt truyền kỳ lưu danh vạn thế. Vừa viết về Tòng Nguyệt vừa làm cô ta sống lại trong lòng của mọi người.
Thượng cổ thần thoại của Lưu An: Ngày xưa, Thiên Đế hạ phàm đã nhiễm bảy sắc dân gian. Tình yêu của Thiên Đế khi khai hoa kết quả đã cho ngài một Hằng Nga xinh đẹp. Tình yêu ấy vốn có quả ngọt nhưng khi Ngài mang nó về trời trở thành trái đắng trong lòng của Thiên hậu. Từ đó Thiên Hậu căm ghét nhân gian. Bà huấn luyện mười đứa con của Bà ( mười Ông Mặt Trời) phải nhiễu lọan nhân gian không ngừng. 
 Hậu Nghệ vốn là tiên trên trời, hết lòng thương yêu Hằng Nga. Thiên Hậu biết được việc đó, Bà muốn trả thù Thiên Đế đã phản bội Bà nên tìm cách chia rẻ Hằng Nga và Hậu Nghệ. Nhân lúc Thiên Đế muốn thả quái vật giao long ra.Thiên Đế nghĩ mọi chuyện đều có nhân quả tuần hòan, cho nên thả yêu vật ra để chúng thành tựu những thành khác.  Hậu Nghệ ngăn cản. Thiên Hậu lấy cớ đó cho là cải lệnh trời nên phạt người xuống trần gian. Khi mới xuống trần Hậu nhận Ông Bà Phùng Đại Má làm cha mẹ.Những ngày sống ở dân gian Hậu Nghệ càng thấy dân gian hữu tình. Nhưng cuộc sống ngừoi phàm không như người tưởng, bên trong có rất nhiều nghi kỵ và mưu trứơc. Hậu Nghệ giáng phàm thì Thiên Hậu cũng cho thả quái vật Giao long ra để đi gây chiến với Hậu Nghệ. cảnh lầm than của nhân gian cũng xảy ra từ đó. Sở dĩ quái vật lọng hành như vậy là do có sự tiếp sức của chín Ông mặt trời và Thiên Hậu. Trong số mười Ông Mặt Trời có một ông cửu mặt trời có tấm lòng bao dung, luôn chống lại Thiên Hậu và chín Ông mặt Trời kia. Chàng đã sang sẽ nguyên thần của mình trong việc Hằnng Nga hạ phàm.Bởi Hằng Nga là Bổn Nguyệt công chúa là con của Thiên đế và phàm dân và cũng là người em thương yêu nhất trong lòng cửu mặt trời đó.
 Hậu nghệ cũng là tiên trên tiên trên Trời, vốn tài giỏi bắn cung.  
Sau khi được thả ra yêu quái Giao Long luôn bám theo phá rối Hậu Nghệ. Những ngày ở phàm gian Hậu Nghệ là anh em của Phong nhi (Hà Bá). Phong nhi sau khi bị giao Long giết chết được thành tiên, làm Hà Bá chấn giữ sông Hòang Hà, đồng thời bị Đại Ông mặt trời khống chế.  
Hằng Nga thiên định tâm linh tương thông với Hâu Nghệ nhưng Vương Mẫu muốn trả thù Ngọc Đế nên hứa gả Hằng Nga cho Hà Bá, để chia cắt mối nhân duyên này.
Mặc dù Hậu Hậu Nghệ là người phàm nhưng Tây Vương mẫu tấm lòng bát ái bao la. Bà trợ giúp cho Hậu Nghệ xây thang lên Trời để cầu hôn Hằng Nga. Còn Vương mẫu nương nương tương kế tửu kế. Một mặt nhận lời của Hậu Nghệ mặt khác tráo giả Hà Bá làm Hậu Nghệ. Khi phát hiện sự việc Hằng Nga nghĩ Thiên địa dân gian không có chỗ dung thân của Hằng Nga, liền bay đến rút trấn Thanh kiếm tính tự sát. Cảnh tình căng thẳng, Hà Bá mới hiểu lẽ nên đòi chết thay cho Hằng Nga. Vừa lúc đó Hậu Nghệ cũng lên tới trời bị Vương phát hiện Bà lập kế kêu Hậu Nghệ làm một việc cho Hắng Nga: Là Hậu Nghệ phải tới thủy đạo ngầm ở tại chân trời gốc của Biển, ở chốn Đông Tây, nơi quỷ thần giao giới, lấy cho Bà một gáo nước. Đó là chỗ cây cột Trời Cộng Công đã sô ngã Bất Châu Tiên. Ở đó Trời đất nghiên về phía đông nước chảy về phía đông, tinh tú đông thăng tây di. Nước ở chỗ đó là thần thủy cũng là đồng thủy. Chỉ cần linh khí ở trong nước đủ mạnh lập tức có thể dung hòa, hóa giải độc tánh. Bà còn nói trước khi lấy nước Hậu Nghệ phải uống thử coi có nước đó như Bà nói không. Vương mẫu muốn lừa dối Hậu Nghệ là lấy linh thủy đó để luyện tiên đơn có công lực mạnh hơn Bàng Đào của Tây Vương mẫu. Để Vương mẫu địch với Tây Vương mẫu. Thật ra, đó là nước vong tình thủy. Uống vào mất trí nhớ, quên hết quá khứ. Bà bịa chuyện ra như vậy để gạc Hậu Nghệ mà thôi.
Tự sát không xong mà Hằng Nga củng không biết tung tích Hậu Nghệ ở đâu nên suốt ngày buồn bả. Thấy vậy Tây Vương mẫu nghĩ ra cách hỏa kiếp để giúp Hằng Nga giáng phàm để đi tìm Hậu Nghệ. Tây Vương mẫu cũng rất đắn đo bởi vì trải qua hỏa kiếp, phải trải qua sanh lão bệnh tử nếu không khéo thì Hằng Nga sẽ tan thành mây khói. Khi chuyển thế làm người trong vòng bảy bảy bốn mươi chín ngày phải tìm cho được chân ái thì mới kể như công đức viên mãn, nếu trong tình thế đó có chút trở ngại thì Hằng Nga sẽ trở thành tro bui, tiêu diệt ở trần thế, dù cho trời đất có trùng phùng cũng không cứu được Hằng Nga. Hằng Nga một mục quyết chí hạ phàm đi tìm Hậu Nghệ.
Trước tiên Tây Vương mẫu cho Hằng Nga uống tán Tiên Thủy để giúp cho Hằng Nga thích ứng được tam vị chân hỏa. Có thể từ từ bớt tiên khí. Khi trừ tiên khí đi thì tinh hư hao cho nên phải bổ xung quỳnh hương ngọc lộ thì Hằng Nga không còn giống như ngày xưa không ăn không uống nữa. Cửu Mặt trời đã hy sinh nguyên thần để luyện tam vị chân hỏa cho Hằng Nga.Khi Hằng Nga uống tam vị chân hỏa phải chịu qua cái nóng kinh khủng xuyên qua thân hình thái dương trong ngòai như đốt, hao tận tiên khí mới trở thành trần gian. Ngọc Đế còn phải động lòng mà khuyên Hằng Nga : '' Chân ái nan tầm đó''. Ngọc Hòang giúp cho Hằng Nga hạ phàm. 
Khi Hằng Nga hạ tới phàm gian thì Hậu Nghệ bị uống Vong tinh thủy mất hét ký ức trong lúc đi lấy thần thủy gặp nạn. Hà Bá thì bản tính nhân từ nhưng Đại mặt Trời khống chế, không tự chủ được. Há Bá yêu thương Hằng Nga với lòng ganh tị nên càng làm cho Hằng ở trần giang gặp phải gian khổ trùng trùng. Thời gian 49 ngày của Hằng Nga ở trần gian đã tới, nhưng chân ái vẫn chưa đoàn tụ được. Trong lúc sắp tan thành mây khói mà lòng luôn lo nghĩ cho Hậu Nghệ vì thân bất do kỷ. 
Hằng Nga đoạn trường như thế mà cũng phải gánh chịu nghiệp tan thành mây khói. Lúc đó Ông Cửu mặt trời đem tiên dược xuống cho Hậu Nghệ ăn để phục hồi trí nhớ.  Khi nhớ lại mọi chuyện, Hậu Nghệ dùng hết chân tình của mình lại bắt thang lên Trời tìm Tây Vương mẫu cứu Hằng Nga. Sau khi bị một trận đòn nên thân Tây Vương Mẫu cho biết là trong vòng bảy ngày phải tìm cho được nguyên thần của Hằng Nga đồng thời Hậu Nghệ phải chịu phân thân ra thì mới cứu sống được Hằng Nga. Hằng Nga được các Tiên Điệp, Phục Hy, Lạc Tân giúp tìm lại được nguyên thần. Cuối cùng Hằng Nga được sóng lại. Nhưng Hai người còn phải đươn đầu với Thiên Hậu và nỗi khốn khổ chúng sanh. Bởi vì Thiên Hậu Nghĩa Hòa đã lập lời nguyền trừ khi Hằng Nga và Hậu Nghệ thành tiên trở lại đời đời kiếp kiếp không thể tương tụ. Lúc vĩnh tuyệt đó cũng là ngày Bà thất bại diệt thế với cách tái tạo nhân gian. Kiếp số ở nhân gian cũng kiếp của Hằng Nga, Hậu Nghệ trải qua. Trong lúc lập thề nguyền, Bà cấm quả cung tiển ở hai nơi. Mũi tên cắm ở cực âm, quả cung cắm ở cực dương. Cần Hai người phải chia cắt hai nơi đồng tâm rút lên cùng một lúc. Có như vậy mới hóa giải lời nguyền của Thiên Hậu. Đó là mạng số của hai người. Hằng Nga, Hậu Nghệ nuốt hai viên tiên dược: một âm một dương. Một nam, một bắc để hộ thân lấy khí thế rút quả cung quyết tiển ra.  Uống xong tiên đơn, Hằng Nga bay đế chỗ cực âm để rút mũi tên, còn Hậu Nghệ đến chỗ cực dương để rút hỏa cung. Khi hai người lấy được hỏa cung tiển  thì đó cũng chính là ngày Hằng Nga, Hậu Nghệ vĩnh tuyệt. Hằng Nga sẽ bay lên nguyệt cung còn Hậu Nghệ đi bắn mấy Ông mặt trời. Nhưng Hậu Nghệ đựợc Cửu mặt trời tiếp tay nên chỉ bắn được chín Ông mặt trời còn lại một Ông thập mặt trời út mà thôi. Vậy mà Thiên Hậu còn muốn tái tạo để diệt trùng tạo nhân thế.  Bà muốn làm quyền cả thế gian.Ông thập mặt trời út bây giờ cũng không đồng tình với Bà nữa.Ông mặt trời út nói ngày xưa những tưởng:'' trật tự tại thiên thượng nhân gian đều ai trị bằng quyền lợi nhưng từ khi thấy Hằng Nga, Hậu Nghệ vì muốn cứu chúng sanh nên đành phải chịu chia cắt. Từ đó cảm nhận được nhân gian hữu tình. Nhưng Thiên Hậu lại vô tinh?...'' Và cũng từ đó Hậu Nghệ  mãi mãi sẽ ở lại nhân gian. Còn  Thiên Hậu bị Thiên Đế trục xuất vào đông không đáy để hối lổi. Ông Mặt Út được Thiên điều đi thái dương cung để chiếu sáng nhân gian. Hằng Nga Bôn Nguyệt, Hậu Nghệ  xạ dịch, hai người đã hy sinh hạnh phúc riêng của mình đổi lại sự sống cho thế gian. Từ đó trần gian mới có ngày có đêm. Đó là do công của hai người nguyện trở thành phụng hoàng trong biển lửa, cùng sống bên nhau, cùng chết bên nhau. Thiên Đế đến đối với sự hy sinh của Hậu Nghệ và Hằng Nga vô cùng cảm động cho nên thỏa mãn yêu cầu của Phục Hy để cho Hằng Nga, Hậu Nghệ có tái phục duyên phu thê. Truyền thuyết Hằng Nga, Hậu Nghệ cứu thế, mối tình đến chết không phai của họ đã được Lưu An ghi chép. Nhưng mà thật đáng tiếc, Quyển Sanh Hòang Nam Tử chỉ còn có Nội Hiệp Nhất Huy còn những phần khác đều bị mất hết. 

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

NGUYỄN DU


Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; 1765–1820) tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê Mạc, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, Nguyễn Du được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.
Nguyễn Du tên tự là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên sinh ngày mồng 3 tháng 1 năm (1765) tức ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tại phường Bích Câu, Thăng Long (nay là phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội). Cha là Nguyễn Nghiễm, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Thượng thư bộ Hộ triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần (24-8-1740) - (27-8-1778), con gái một người làm chức câu kế. Quê làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm (kém chồng 32 tuổi sinh được năm con, bốn trai và một gái).
Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.
Năm Đinh Hợi (1767), khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giầu sang phú quý.
Năm Giáp Ngọ (1774), cha Nguyễn Du sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát:
Năm 1775 anh trai cùng mẹ là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời.
Năm 1776 (Bính Thân) cha Nguyễn Du qua đời.
Năm 1778 (Mậu Tuất) bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa.
Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ (Nam Định) nuôi ăn học.
Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.
Năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề (sinh 1761) đỗ đầu kỳ thi Hương ở điện Phụng Thiên (cử Nhân) và Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng.
Tháng 2 năm (1784), kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi chết ở Thăng Long.
Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với nhà Tây Sơn|Tây Sơn]], giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ (Quỳnh Côi, Thái Bình).
Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy.
Năm 1793 Quý Sửu, Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.
Năm 1794 Giáp Dần, Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)
Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội).
Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
Năm 1805 Ất Sửu ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm 1807 được cử làm giám khảo kỳ thi h\Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm 1808 ông xin về quê nghỉ.
Năm 1809 ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình
Năm Quý Dậu 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham chi bộ Lễ (hàm Tam phẩm).
Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam.
Năm 1820 (Canh Thìn) Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 AL (16-9-1820) thọ 54 tuổi.
Năm Giáp Thân (1824), người ta cải táng ông và đưa về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh.[3]
Tác phẩm
Văn bản
Tác phẩm bằng chữ Hán
Thơ chữ Hán của ông được chia làm ba tập
Thanh Hiên thi tập. Gồm 78 bài, sáng tác trong thời gian ông sống ở quê hương xứ Nghệ tức là trước khi ông ra làm quan triều nguyễn
Nam Trung tạp ngâm. Gồm 40 bài, sáng tác trong thời ông làm quan triểu nguyễn ở Huế,ở Quảng Bình và ở một số địa phương khác từ Hà Tĩnh trở vào nam.
-Thanh Hiên thi tập và Nam Trung tập ngâm nói lên tâm trạng buồn đau, day dứt, đây được xem là khuynh hướng quan sát và suy ngẫm về cuộc đời tác giả
Bắc hành tạp lục. Gồm 131 bài, sáng tác trong thời gian ông đi sứ sang tàu
Thơ khi đi sứ có 3 nhóm đáng chú ý:
  +ca ngợi, đồng cảm với nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện.
  +Phê phán xã hội phong kiến, chà đạp lên số phận, quyền được sống của con người.
  +Cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội bị đạn dày hắt hủi.
Tác phẩm bằng chữ Nôm
Truyện Kiều( Đoạn Trường Tân Thanh)
và Văn Chiêu Hồn
Truyện kiều: gồm 3254 câu lục bát, dựa vào tiểu thuyết chương hồi "Kim Vân Kiều Truyện" của Thanh Tâm tài nhân Trung Quốc. Đây là một kiệt tác tự sự, trữ tình độc nhất vô nhị trong nền văn học trung đại dân tộc.
Truyện Kiều được xem là những sáng tác mang tính sáng tạo nhất của Nguyễn Du về nghệ thuật sử dụng từ ngữ. Tuy xem là vay mượn cốt truyện nhưng Kiều trong thơ của Nguyễn Du và Kiều trong truyện Trung Quốc khác nhau về nhiều điểm. Vì văn hóa của mỗi quốc gia khác nhau và cách nhìn đời, cảm nhận cuộc sống của mỗi tác giả cũng khác nhau. Truyên Kiều của Nguyễn Du được in ra nhiều thứ tiếng khác nhau và xuất bản trên nhiều nước.
Văn chiêu hồn: thể thơ song thất lục bát thể hiện tấm lòng nhân ái của Nguyễn Du đối với những oan hồn bơ vơ không nơi nương tựa, nhátlà phụ nữ và trẻ em.
Đánh giá
Trước năm 1930
Từ 1930 đến 1945
Từ 1945 đến 1980
Từ 1980 đến nay
Người Đời Nghĩ Gì Về Nguyễn Du?
Nguyễn Du được người đời xem nhưng đại thi hào hiếm có trong lịch sử văn học, ông là người với tâm hồn cao thượng, một người đi trước thời đại về cách nghĩ. Trong khoảng thời gian nho giáo còn là độc tôn-phục vụ cho chế độ phong kiến Việt Nam. Điều đó thể hiện ở tác phẩm để đời của ông-Truyện Kiều. Đoạn Kiều ở Lầu Ngưng Bích thể hiện tâm trạng nhớ người thân và chàng Kim. Có thể khi đọc người ta sẽ cho rằng Kiều bất hiếu cha mẹ có công dưỡng dục nhưng không nhớ đến cha mẹ trước lại nhớ đến chàng Kim. Thế nhưng nếu nhìn ở một góc độ khác Nguyễn Du lại là người đi trước thời đại, ông cho Kiều cái quyền riêng tư của mình, cái quyền nhớ đến người yêu-người cùng thề nguyện với mình trước cha mẹ.

Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

HẠ TRI CHƯƠNG


Hạ Tri Chương (chữ Hán: 賀知章; 659 - 744), tự Quý Chân, khi từ quan về làng tự xưng là Cuồng khách, là nhà thơ đời Đường, người Cối Kê, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc

Đời Đường Trung Tông, Hạ Tri Chương đỗ tiến sĩ vào năm 684, được bổ làm Thái thường bác sĩ. Trong thời Khai nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.
Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: "Ở vào thời Sơ Đường, thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái."  Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại 20 bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
Hạ Tri Chương giỏi về văn từ, có tài hùng biện, kiến thức uyên bác và trí nhớ đặc biệt, tự phong hiệu là “ Tứ Minh Cuồng Khách” . Ông mất năm 86 tuổi. Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có một số ít bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài Hồi Hương Ngẫu Thư của Ông sáng tác khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách . Bài thơ dạt dào tình cảm, đã diễn tả những nỗi niềm chất phát bộc trực từ con tim và đáy lòng của nhà thơ. Ông đã từ giã quê hương ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ, và qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng thưa, phơ phơ sương điểm, nhưng giọng nói quê cũ của ông vẫn chẳng bao giờ đổi thay, đã chứng tỏ tình cảm của ông vẫn luôn còn gắn bó tha thiết với quê hương cố quận, cho dù sống tha phương ngàn trùng xa cách , tận chân trời góc bể nào… Đã bao nhiêu năm xa cách nơi chôn nhau cắt rún, chắc hẳn không phải là điều ngạc nhiên khi người thơ về thăm quê cha đất tổ và gặp đàn trẻ nhỏ chạy chơi quanh quẩn, nhìn ông như một người khách từ phương xa đến đây :
Còn trẻ ra đi, lão mới về
Tóc thưa cằn cỗi, tiếng còn quê
Trẻ con trông thấy mà không biết
Cười hỏi " Khách từ mô đến tê ? "
Ông về đó để tìm lại những kỷ niệm dấu yêu thời hãy còn thơ ấu, để tìm lại bạn bè thuở hàn vi … nhưng những người bạn cũ đó, nếu may mắn còn sống được đến ngày nay như tuổi của ông thì thật là hiếm có vô cùng. Bạn bè kẻ mất người còn , "bán tiêu ma" (vắng đi một nửa).. nhưng thật ra khó mà tìm được bạn cũ người xưa còn nhớ ông để mà tri âm, kể lại chuyện vui buồn dĩ vãng thời niên thiếu .. Thương nhớ bạn bè xưa để mà suy ngẫm thân phận mình, về chuyện đời lắm nỗi thăng trầm dâu bể .. Tất cả đều đổi thay .. tang điền thương hải. Cuộc đời như giấc mộng, như gió thoảng, mây bay cuối trời .. Có còn lại chăng là cái hình ảnh của thiên nhiên vô thủy giữa cảnh trời đất mênh mông vô tận … mặt Hồ Kính trước nhà vẫn lung linh , sóng nước lăn tăn vẫn còn đó, vẫn còn nguyên vẹn trước gió Xuân, dẫu qua bao cuộc bể dâu :

Năm tháng xa nhà chắc đã lâu
Bạn bè mất nửa, nửa về đâu
Hồ Gương trước cửa lung linh nước
Gió chẳng làm thay gợn sóng sầu
1. Bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư - Kỳ Nhất (nguyên tác) :



Hồi Hương Ngẫu Thư – Kỳ Nhất
Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tùng hà xứ lai
Hạ Tri Chương

Ngẫu Nhiên Khi Về Quê (Bài Một)
1- Còn trẻ ra đi, lão mới về
Tóc thưa cằn cỗi, tiếng còn quê
Trẻ con trông thấy mà không biết
Cười hỏi " Khách từ mô đến tê ? "
2- Trẻ ra đi, lão mới về
Tóc bông thưa thớt, tiếng quê dạt dào
Trẻ con lạ lẫm lao xao
Hỏi cười " Khách lạ phương nào đến đây? "
Hải Đà

2. Bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư - Kỳ Nhị (nguyên tác):


Hồi Hương Ngẫu Thư (Kỳ Nhị)
Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa
Cận lai nhân sự bán tiêu ma
Duy hữu môn tiền kinh hồ thủy
Xuân phong bất cải cựu thời ba
Hạ Tri Chương

Ngẫu Nhiên Khi Về Quê (Bài Hai)
1- Năm tháng xa nhà chắc đã lâu
Bạn bè mất nửa, nửa về đâu
Hồ Gương trước cửa lung linh nước
Gió chẳng làm thay gợn sóng sầu

2- Quê nhà xa cách tháng năm
Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt Hồ Gương trước ngõ soi
Gió xuân chắc chẳng đổi đời sóng xưa
Hải Đà

Hồi Hương Ngẫu Thư (Thơ phổ nhạc)
Thơ phóng tác: Vương Ngọc Long
(Ý thơ Hạ Tri Chương)
Nhạc: Mai Đức Vinh

Ra đi thuở hãy còn thơ
Tuổi già mới được ngày mơ trở về
Thưa rằng chẳng mất giọng quê
Tóc sương điểm bạc lòng tê tái sầu
Người quen cảnh cũ còn đâu
Bạn xưa chẳng nhận ra nhau...nghẹn ngào
Trẻ con lạ lẫm lao xao
Hỏi cười “ Khách lạ phương nào đến đây ? “
Đời như gió thoảng mây bay
Xa quê nào biết tháng ngày trôi qua
Chơi vơi lá rụng sân nhà
Đìu hiu vườn cũ nhạt nhòa lệ rơi
Long đong góc bể chân trời
Bạn bè đếm được mấy người còn đây
Thoảng nghe con nước thở dài
Lung linh Hồ Kính nhà ai gợn sầu
Mặc đời lắm cảnh bể dâu
Gió Xuân chẳng đổi thay màu sóng xưa …
3.


題袁氏別業
主人不相識,
偶坐為林泉。
莫謾愁沽酒,
囊中自有錢。
 Phiên  âm 
Đề Viên thị biệt nghiệp
Chủ nhân bất tương thức
Ngẫu tọa vị  lâm tuyền
Mạc mạn sầu cô  tửu
Nang trung tự hữu tiền

Dịch thơ  quốc âm    
Đề Viên thị biệt nghiệp, dịch nghĩa  
“Đề thơ riêng tặng nhà họ Viên”
Tình ta với chú2 chửa thâm,
Ngẫu nhiên cùng ngắm suối lâm râm tình .
Buồn chi! _  uống rượu một mình,
Sẵn tiền trong túi cho mình góp vui !.

Ngẫu nhiên viết nhân lúc buổi về làng

Khi đi trẻ,lúc về già
Giọng quê vẫn thế tóc đà khác bao
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng : khách ở chỗ nào lại chơi.
Phạm sĩ Vĩ dịch

 Bài thơ  khi về làng
Hồi hương, nhớ thuở trẻ ra đi
Tóc rụng nghe còn đúng tiếng quê
Gặp mặt trẻ con cười chẳng biết
Hỏi ta mới ở xứ nào về .
Bùi Khánh Đản dịch,


 Về quê tự dưng viết kỳ 1
Bé  đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.
Trẻ con trông thấy hững hờ,
Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.
Trần Trọng Kim  dịch




詠 柳
碧 玉 妝 成 一 樹 高,
萬 條 垂 下 綠 絲 絛。
不 知 細 葉 誰 裁 出,
二 月 春 風 似 剪 刀

Vịnh liễu
Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,
Vạn điều thuỳ hạ lục ty thao.
Bất tri tế diệp thuỳ tài xuất,
Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao.

Dịch nghĩa
Vịnh liễu
Ngọc biếc trang điểm thành một cây cao,
Vạn nhành rủ xuống những sợi tơ biếc.
Chẳng biết những lá mảnh mai đã bị ai cắt mất,
Gió xuân tháng hai tựa chiếc kéo.
Dịch thơ
Vịnh liễu
Trang hoàng ngọc bích một nhành cao
Rủ sợi muôn tơ ánh biếc màu
Lá mảnh nào hay ai cắt xén
Xuân thời ngọn gió bén như dao
4.


Nhà thơ Hạ Tri Chương đời Đường rời nhà từ nhỏ, già mới trở về làng, giọng quê vẫn giữ, nhưng tóc đã phai màu, lũ trẻ trong làng chẳng biết ông là ai, cười hỏi khách từ nơi nào tới? [Thiều tiểu ly gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải, mấn mao tồi/ Nhi đồng tương kiến bất tương thức/ Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai?]
(Chú ý cả phần thư pháp trên bức họa).

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

LƯU BÁ ÔN

Lưu Bá Ôn (chữ Hán: 劉伯溫), tên thật là Lưu Cơ (劉基, 1311-1375); là nhà văn, nhà thơ và là công thần khai quốc nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một trong những nhân vật có nhiều huyền thoại, là người đã đề cao tư tưởng "quan bức, dân phản", đồng thời là tác giả tản văn "Mại cam giả ngôn" nổi tiếng nhằm đả kích giới "thống trị thối nát"

Thân thế và sự nghiệp
Lưu Bá Ôn là người huyện Thanh Điền, tỉnh Chiết Giang. Ông sinh ra trong một gia đình Nho học từng có truyền thống chiến đấu dũng cảm chống lại quân xâm lược Nguyên Mông trước đây. Nhờ siêng học, đam mê đọc sách, ông sớm làu thông kinh sử, văn chương, binh pháp và thiên văn. Đương thời có câu khen ông là: Thông binh pháp ai hơn Tôn Võ - Giỏi thiên văn phải kể Lưu Cơ[1].
Vào cuối đời nhà Nguyên, ông thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm quan; nhưng vì bị chèn ép, chỉ trích nên ông tức giận bỏ về ở ẩn năm 1360.
Khi Chu Nguyên Chương khởi nghiệp, lấy lễ mời ông ra giúp. Ban đầu, Lưu Bá Ôn tỏ ra miễn cưỡng (ông vốn xem các cuộc khởi nghĩa nông dân thời đó là "giặc cướp") và phải nhiều lần được khuyên giải, thúc giục ông mới chịu đi. Tuy nhiên, sau khi triệu kiến Chu Nguyên Chương, Bá Ôn cho rằng mình đã gặp được minh chúa và vì vậy, quyết định theo phò họ Chu. Ông đệ trình bản "Thời vụ thập bát sách" (tức 18 sách lược vận dụng trong tình thế đương thời), liền được Chu Nguyên Chương tán thưởng, ví ông như Trương Lương và cất ngay lên chức Quảng Văn quán Học sĩ. Ông trở thành một mưu sĩ tài ba của Chu Nguyên Chương, giúp Chu Nguyên Chương lần lượt đánh bại các tập đoàn quân phiệt khác như Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành, nhiều lần biến nguy thành an. Các chiến thắng quan trọng ở thành Thái Bình, An Khánh, Giang Châu, hồ Bà Dương chống Trần Hữu Lượng, ở Kiến Đức chống lại Trương Sĩ Thành, cùng như việc quy hàng Phương Quốc Trân và nhiều thế lực địa phương khác đều do Lưu Bá Ôn bày mưu tính kế. Đặc biệt tại hồ Bà Dương, ông cùng với Chu Nguyên Chương trực tiếp chỉ huy cuộc chiến và đã một lần cứu thoát Chu Nguyên Chương khỏi bị đạn pháo của quân địch bắn trúng. Chủ trương của Lưu Bá Ôn là "đánh Trần Hữu Lượng trước rồi mới tiêu diệt Trương Sĩ Thành sau" vì ông nhận xét rằng Trương Sĩ Thành là người thụ động, chỉ biết bo bo giữ lấy lãnh địa của mình, trong khi tập đoàn Trần Hữu Lượng là một thế lực hiếu chiến, nguy hiểm và vì vậy cần phải thanh toán ông ta trước để diệt trừ hậu họa. Chiến lược này đã tỏ ra đúng đắn và chứng tỏ Lưu Bá Ôn hiểu rất rõ bản chất của kẻ địch.
Bản thân Trần Hữu Lượng, sau khi bị đánh bại ở Giang Châu, biết mình thua là do mưu kế của Lưu Bá Ôn, đã than rằng:
“Dưới tay ta thiếu một mưa sĩ như Lưu Bá Ôn. Sau này kẻ tiêu diệt ta, chắc chắn chính là Bá Ôn rồi. Chả lẽ ý trời nghiêng về Chu Nguyên Chương, nên mới sai Bá Ôn tới trợ giúp đó chăng ?”
Năm 1367, ông lại bày mưu cho Chu Nguyên Chương chiếm Sơn Đông, Hà Nam, rồi tiến đánh kinh đô của nhà Nguyên là Đại Đô (nay là Bắc Kinh), khiến vua Nguyên Huệ Tông (1333-1370) tháo chạy, triều Nguyên sụp đổ.
Khi đại cuộc đã định xong, Lưu Bá Ôn được giữ chức Ngự sử trung thừa kiêm Thái sư lệnh, tước Thành Ý bá. Kể từ đó ông cùng với Tống Liêm[2](1310-1381) giúp vua chế định mọi công việc, từ khoa cử, hình pháp cho đến lễ nhạc...
Tuy nhiên, do tính tình cương trực, liêm chính, sẵn sàng trừnh trị thẳng tay bất cứ gian thần nào - cho dù đó là "con ông cháu cha" - Lưu Bá Ôn đã gây hiềm thù với nhiều đại thần lúc đó như Lý Thiện Trường và Hồ Duy Dung. Sau thấy Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) rắp tâm hãm hại công thần, tháng 8 năm Hồng Vũ thứ nhất (khoảng tháng 10 năm 1368), ông dâng sớ xin từ quan, nhưng mãi đến năm 1371, ông mới được về nghỉ sau khi từ chối ngôi vị thừa tướng. Cũng trong dịp đó, Chu Nguyên Chương đã hỏi ý kiến Lưu Bá Ôn về các "ứng cử viên" thừa tướng như là Lý Thiện Trường, Hồ Duy Dung, Dương Hiến, Uông Quảng Dương và cả chính Lưu Bá Ôn. Bá Ôn đã trình bày những phân tích, kiến giải của mình về bản chất, tính cách, tài năng của mỗi người và cho rằng tất cả đều không thích hợp làm Thừa tướng (kể cả ông). Chu Nguyên Chương cho rằng Lưu Bá Ôn quá cầu toàn, nhưng thực tế cho thấy những nhận định của Lưu Bá Ôn là chính xác, cả Lý, Hồ, Dương và Uông sau này đều gây rắc rối thậm chí là tai họa cho triều đình nhà Minh.
Sau khi từ quan, ông về vùng thôn dã sống ẩn dật, tuyệt đối tránh dây dưa với quan trường và giới quan lại, thậm chí còn yêu cầu bạn bè chỉ gọi mình đơn giản là "Bá Ôn" hay "Bá Ôn huynh" chứ đừng đề cập đến chức tước của mình. Ông cũng không thích được mọi người khen tặng về những chiến công khi xưa. Tuy nhiên, với bản tính cương trực, liêm chính, Lưu Bá Ôn không hoàn toàn có thể bỏ ngoài những sự việc chướng tai gai mắt của cuộc đời. Một lần nọ, ông thấy bọn đào binh Minh Dương nổi loạn tại Đạm Dương, giết người cướp của, tàn hại bá tánh trong khi bọn quan lại địa phương sợ bị trách tội nên không dám báo cáo tình hình. Thế là Lưu Bá Ôn đã nhờ con trai mình là Lưu Liễn viết tấu chương gửi cho triều đình yêu cầu trừng trị bọn chúng. Phe cánh của Hồ Duy Dung đã lợi dụng việc này để viết một tấu chương vu cho Lưu Bá Ôn tội âm mưu xây mộ địa tại Đạm Dương để lợi dụng vương khí ở đây mưu chuyện bất chính và sai Tuần Kiểm ty chiếm đất, xua đuổi dân chúng để lấy đây xây mộ, khiến dân chúng nổi loạn. Chu Nguyên Chương nghe qua rất bực tức nên đã hạ chiếu chỉ cắt hết bổng lộc của họ Lưu. Biết là có người muốn hại mình, nhưng trước tình hình phe đảng của Hồ Duy Dung chiếm lĩnh triều đình Lưu Bá Ôn không thể tự thanh minh cho mình mà buộc phải đến "nhận lỗi" trước mặt Chu Nguyên Chương để tránh họa sát thân. Chu Nguyên Chương thấy vậy nên cũng bỏ qua không truy cứu nữa.
Sau lần đó, Lưu Bá Ôn dọn về ở hẳn tại kinh đô và đóng cửa ở lì trong nhà, không tiếp xúc với ai để tránh tạo cớ cho Hồ Duy Dung vu hại. Tuy nhiên, trước tình hình thời cuộc ngày càng tồi tệ, nhất là khi biết Hồ Duy Dung đã được vua thăng lên làm Thừa tướng, Lưu Bá Ôn buồn rầu mà chẳng bao lâu sinh bệnh. Ông nói:
“ Hồ Duy Dưng lên làm Thừa tướng, chắc chắn sẽ sinh đại họa, quốc gia sẽ gặp đại loạn, sinh linh lại phải chịu tai ương. Nếu lời nói của tôi không ứng nghiệm, thì đó chính là đại hồng phúc của bá tánh nhân dân. Trái lại, nếu lời nói cửa tôi ứng nghiệm, thì cuộc sống của đông đảo chúng sinh biết làm sao đây ?”
Câu nói đó lọt đến tai Hồ Duy Dung, khiến Hồ càng căm tức và quyết tâm trù dập Bá Ôn. Quá phẫn uất trước nạn quyền thần lộng hành, bệnh tình của ông càng lúc trở nên nguy kịch. Chu Nguyên Chương thấy thế không khỏi thương cảm nên đã đích thân viết biểu văn gởi đến Bá Ôn và phái sứ giả hộ tống ông trở về quê nhà. Có điều, bệnh của Lưu Bá Ôn không hề thuyên giảm và chỉ một tháng sau đó (năm 1375) ông qua đời, hưởng thọ 64 tuổi. Có thuyết cho rằng Hồ Duy Dung đã sai thầy thuốc của mình mang độc dược đến hại chết Lưu Bá Ôn, vì trước lúc Lưu chết, ông nói rằng khi uống thuốc của Hồ Duy Dung mang đến thì thấy trong bụng có một vật cứng như đá, to bằng nắm tay.
Dù bị hãm hại và bạc đãi, Lưu Bá Ôn vẫn một lòng trung thành với triều đình nhà Minh. Lúc lâm chung, Lưu Bá Ôn đã gọi các con trai Lưu Liễn và Lưu Cảnh đến đến, đưa tác phẩm "Thiên văn thư" cho Liễn và một bản tấu chương bàn luận về thế sự, phương pháp trị nước cho Cảnh. Ông dặn Liễn và Cảnh rằng Hồ Duy Dung chuyên quyền bạo ngược thể nào cũng gặp tai họa, vì vậy sau khi Hồ và phe đảng bị diệt trừ thì Liễn và Cảnh hãy đem bản tấu chương cùng "Thiên văn thư" đến dâng cho Chu Nguyên Chương. Đúng như Lưu Bá Ôn dự đoán, khi Hồ Duy Dung và bè đảng nắm hết quyền hành, lộng quyền phách lối, nên bị Chu Nguyên Chương nghi ngờ. Nghi án Lưu Bá Ôn bị hạ độc cũng được cho điều tra lại. Trước tình hình đó, Hồ Duy Dung đã âm mưu làm phản nhưng bị bại lộ, thế là ông ta cùng toàn bộ phe đảng bị Chu Nguyên Chương xử tử. Lúc này, Chu lại nhớ đến Lưu Bá Ôn. Lưu Liễn và Lưu Cảnh nhân cơ hội đó đã vào cung, dâng "Thiên văn thư" cùng bản tấu chương của cha mình cho nhà vua. Nhận thấy tâm huyết của vị lão thần trung thành, Chu Nguyên Chương cảm động nói:
“ Khi Lưu Bá Ôn còn sống, cả triều đình đều là bọn "Hồ đảng", chỉ riêng có một mình ông ấy là không theo chúng, nên mới bị chúng thư (hạ độc). ”
Để tri ân lòng trung thành và đóng góp của Lưu Bá Ôn, năm 1380 Chu Nguyên Chương đã hạ lệnh cho con cháu của Lưu Cơ được hưởng tước lộc truyền từ đời này qua đời khác của tước Thành ý Bá. Sau này, vua Minh Vũ Tông cũng đã khen tặng Lưu Bá Ôn là "Độ giang sách sĩ vô song, khai quốc văn thần đệ nhất" (nhà mưu lược có một không hai đã giúp cho triều đình vượt sông bình định thiên hạ, cũng là bậc văn thần khai quốc đứng hàng đầu).
Tác phẩm
Tác phẩm của Lưu Bá Ôn có Thành Ý Bá văn tập, gồm 20 quyển [3], trong đó nổi bật là phần bàn về mưu lược quân sự, mà tiêu biểu là quyển Bách chiến kỳ lược, nêu lên một trăm loại hình tác chiến trong mọi điều kiện, được giới quân sự đánh giá cao.
Trong Lịch sử Văn học Trung Quốc {tập 3) có giới thiệu vài tác phẩm tiêu biểu của Lưu Bá Ôn, tóm lược như sau:
Tản văn
Bài "Mại cam giả ngôn" (Lời người bán cam): thông qua cuộc nói chuyện giữa người bán cam và tác giả, bằng giọng văn sắc sảo, sinh động, mạnh mẽ; truyện đã vạch trần và công kích sự thối nát của tầng lớp thống trị...
Bài "Tùng phong các ký": lời văn điêu luyện, miêu tả thành công hình tượng và âm thanh của cây thông núi, rất xác thực và sinh động...
Tập Úc Li tử, gồm 18 chương (195 thiên), bằng thể văn ngụ ngôn, được viết vào đời Nguyên, khi ông còn ở ẩn.
Trong "Lời tựa", khi nói đến ý đồ sáng tác của tác giả, Từ Nhất Quỳ viết: "có lẽ vì ông muốn uốn nắn cái sai lầm của triều Nguyên, nên gợi ra mà nói". Sách Lịch sử Văn học Trung Quốc cũng có lời bình:
"Trong tập Úc Li tử, chủ yếu tác giả đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích của tầng lớp thống trị, để gieo rắc nhiều những thứ, như tư tưởng thống trị, quan niệm đạo đức, quan điểm định mệnh theo phong kiến...Tuy nhiên trong đó có không ít truyện ngụ ngôn đã bóc trần được hành vi tội ác bóc lột và lừa gạt nhân dân của tầng lớp thống trị, công kích sự thối nát, bất lực và lòng tham không đáy của họ, như chuyện Dưỡng thư giả (Người nuôi khỉ), Dưỡng Phong giả (Người nuôi ong)...Về mặt nghệ thuật, trong Úc Li tử, mỗi bài thường ngắn gọn, nội dung sinh động, ngôn từ giản đơn, tự nhiên và đều có khả năng đứng độc lập vì chỉ được liên kết nhau qua lời bàn của nhân vật Úc Li Tử.
Thơ ca
Nhìn chung, lời thơ mộc mạc, hào phóng, hùng hồn mang phong cách thơ cổ, làm khơi dậy dòng thơ phục cổ sau này. Sách Lịch sử Văn học Trung Quốc đánh giá:
"Nhờ gần gũi nhân dân, nên trong các tác phẩm thơ ca của ông ở thời kì đầu, có không ít bài phản ảnh được hiện thực xã hội, cảm thông được nỗi thống khổ của nhân dân. Như bài Mãi mã từ, Bắc thượng cảm hoài, Tặng Chu Tông Đạo; ông không những chỉ trích gay gắt những quan lại địa phương chiếm đoạt gạo cứu tế, vu cho dân lành là kẻ cướp; mà còn vạch hành vi trần tội ác, thói hay đàn áp của chúng, làm nguy hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Điểm nổi bật nữa là, qua thơ ca, ông đã chỉ ra một chân lí cuộc sống "quan bức, dân phản"...
Bách chiến Kỳ lược và Thiên văn thư
"Bách chiến Kỳ Lược" là một bộ sách trước tác về lý luận quân sự của Lưu Bá Ôn. Cụ thể, đó là bản tổng hợp và nhận xét của ông sau khi đọc "Võ Kinh" , đồng thời còn tập hợp thêm nhiều tài liệu quân sự khác từ thời Tiền Tần cho tới Ngũ Đại Thập Lục Quốc cùng với một số kiến giải riêng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của mình. Trong tác phẩm, Lưu Bá Ôn đã cực lực phê phán thái độ hiếu chiến và phản đối việc lạm dụng binh lực. Ông cũng đề cao các mặt chiến lược, chiến thuật và chủ trương khi sống trong yên ổn phải nhớ đến hồi nguy nan, khi sống trong bình yên phải nhớ đến hồi loạn lạc, "bên trong phải chấn chỉnh văn đức, bên ngoài phải củng cố võ bị". Ông cũng chủ trương tránh gây thù chuốc oán đồng thời nhấn mạnh việc ly gián, phân hóa quân địch để tiến tới bẻ đũa từng chiếc. Đồng thời, trong xây dựng quân đội, phải thưởng phạt công minh, vừa khen thưởng kết hợp với trừng phạt, giáo dục và tạo dựng lòng tin nơi binh sĩ. Lưu Bá Ôn cũng nêu ra nhiều tình huống quân sự khác nhau cùng các phương hướng tác chiến một cách linh hoạt, cơ động; trong từng vấn đề quân sự, ông đã nhìn từ góc độ tương phản giữa các sự vật để giải thích rõ ràng về các nguyên tắc dụng binh.
"Thiên văn thư" là một tác phẩm bàn về thiên văn và nhân sự, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn quân sự cũng như từ việc trị quốc nhiều năm của Lưu Bá Ôn. Cả "Thiên văn thư" cùng "Bách chiến Kỳ lược" đều được Chu Nguyên Chương xếp vào dạng "tài liệu tối mật", cấm lưu hành bên ngoài. Đáng tiếc, đến nay cả hai bộ sách đã bị thất lạc, chỉ còn một số bản chép tay lưu truyền trong dân gian mà thôi.
Huyền thoại
"Lưu Cơ truyện" trong bộ Minh sử không ghi chép gì về thuật phong thủy của ông. Nhưng dân gian thì lại lưu truyền rất nhiều chuyện, như chuyện Lưu Cơ chọn đất xây cung điện (chép trong "Anh liệt truyện"), hay chuyện ông cùng các thầy phong thủy huyện Hải Diêm bàn luận về long mạch ở Trung Quốc (chép trong "Lạc dao tư ngữ") v.v...
Đề cập đến vấn đề này, sách Bí ẩn của phong thủy có lời bình:
"Lưu Cơ về ẩn dật ở quê, nghe nói ông bị Hồ Duy Dung sai thầy thuốc đầu độc mà chết. Trong con mắt các thầy phong thủy, Lưu Cơ là bậc thầy về thần cơ diệu toán, là nhân vật để lại dấu ấn trong lịch sử phong thủy. Với một “thần nhân” như vậy mà không hiểu làm ăn thế nào, để đến nỗi cuối đời, bị bất hạnh, thậm chí bị đầu độc mà chết? Xem ra, thuật phong thủy không cứu nổi con người.
Sau khi có lời bàn tương tự, hai tác giả là Đại tá Trần Ngọc Thuận & Trần Thanh Loan đã kết luận rằng:
"Lưu Bá Ôn, lúc già bị thất sủng, bị bệnh tật và bị đầu độc chết, Nhân sinh khó tránh thiên mệnh, thế sự suy vi nhân vô thập toàn.Qua đó cho rằng ông chán cảnh đời chán cảnh vua tôi bạc tình đa nghi cho bậc trung thần cứu quốc. Quyết chí đi về cõi thiên thu lánh sự thời gian gian"

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2010

NGÔ PHÙ SAI, VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN, PHẠM LÃI

I. NGÔ PHÙ SAI
  
Ngô Phù Sai (chữ Hán chính thể: 吳夫差) trị vì: 495 TCN-473 TCN) hay Ngô Vương Phù Sai (吳王夫差), tên thật là Cơ Phù Sai, là vị vua thứ 25 nước Ngô thời Đông Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Lên ngôi
Phù Sai là con của Ngô vương Hạp Lư– vua thứ 24 của nước Ngô.
Thời còn là thái tử, Phù Sai đã được vua cha sai cầm quân đi đánh nước Sở năm 504 TCN. Ông ra quân thắng trận, chiếm được đất Phiên. Sở Chiêu vương bị nước Ngô uy hiếp trong nhiều năm, sợ hãi phải dời bỏ Sính đô đi đóng đô ở đất Nhược.

Năm 496 TCN, Hạp Lư đi đánh nước Việt, bị trúng tên tử trận. Trước khi qua đời, Hạp Lư gọi Phù Sai lại dặn nhất định phải báo thù. Phù Sai lên nối ngôi vua, tích cực luyện quân để đánh Việt.

Phù Sai nhớ thù cha, chú trọng luyện quân để báo thù. Ông phong đại phu Bá Hi làm thái tể, phụ trách việc tập dượt quân lính.

Năm 494 TCN, Phù Sai mang quân đi đánh Việt. Quân Ngô đại phá quân Việt ở Phù Tiêu. Vua Việt là Câu Tiễn chỉ còn 5000 quân rút lên núi Cối Kê. Thế cùng, Câu Tiễn sai Văn Chủng mang của báu đi đút lót cho thái tể Bá Hi, nhờ nói hộ với Phù Sai cho giảng hòa. Khi Văn Chủng đến gặp Phù Sai giảng hòa. Ngũ Viên phản đối giảng hòa nhưng Bá Hi đồng tình; cuối cùng Phù Sai theo ý kiến của Bá Hi, cho Câu Tiễn giảng hòa.

Câu Tiễn giao quyền chính cho Văn Chủng, tự mình làm con tin ở nước Ngô, cùng Phạm Lãi hầu hạ Phù Sai. Câu Tiễn hết sức cung kính tỏ ý thần phục và tìm nhiều cách lung lạc Phù Sai khiến ông tin tưởng sự khuất phục của nước Việt. Năm 492 TCN, Phù Sai thả Câu Tiễn về nước, bất chấp sự phản đối của Ngũ Viên. Câu Tiễn sai người đút lót cho Bá Hi, nhờ nói giúp về sự trung thành của mình khiến Phù Sai mất cảnh giác. Câu Tiễn âm thầm nuôi dưỡng lực lượng đợi lúc báo thù mà Phù Sai không để ý đến.
Tranh bá: Đánh Tề
Năm 489 TCN, Phù Sai nghe tin Tề Cảnh công qua đời, vua mới còn yếu, các quan đại thần nước Tề tranh giành quyền lực, bèn mang quân đánh Tề. Ngũ Viên can Phù Sai không nên đánh Tề mà nên chú ý về Câu Tiễn đang nuôi dưỡng sức lực để trả thù nước Ngô.

Phù Sai không nghe theo, mang quân đi đánh Tề, đại phá quân Tề ở Ngải Lăng. Quân Ngô tiến đến đất Tăng, đòi Lỗ Ai công nộp 100 con bò, sau đó chiếm lấy đất đai phía nam nước Lỗ và nước Tề.
Năm 487 TCN, Ngô Phù Sai lại đánh nước Lỗ. Lỗ Ai công phải thần phục, ăn thề xin giảng hòa.

Năm 486 TCN và 485 TCN, Phù Sai lại 2 lần mang quân đánh Tề. Việt Câu Tiễn thấy vậy mang dân chúng tới tỏ ý thần phục và dâng lễ vật. Phù Sai vui mừng vì uy thế với chư hầu của mình, không nghe theo lời cảnh báo của Ngũ Viên.

Phù Sai giận Ngũ Viên can gián việc phải cảnh giác với Việt mà ngừng đánh Tề, bèn sai Ngũ Viên đi sứ nước Tề. Ngũ Viên đoán biết nước Ngô sẽ bị diệt bèn gửi con ở lại cho đại phu họ Bão nước Tề. Phù Sai biết chuyện cho rằng Ngũ Viên phản Ngô bèn đưa kiếm bắt Ngũ Viên tự sát. Trước khi chết Ngũ Viên tin chắc Việt sẽ diệt Ngô.
Năm 484 TCN, nhân họ Bão giết Tề Điệu công, Phù Sai lại mang quân từ biển tiến lên phía bắc đánh Tề, nhưng lần này quân Ngô bị quân Tề đánh bại.
Hội chư hầu
Dù thất trận ở Tề, uy thế nước Ngô vẫn rất lớn. Đầu năm 483 TCN, Phù Sai họp chư hầu ở Hoằng Trì, muốn tranh ngôi bá chủ của nước Tấn. Trong khi hội chư hầu chưa xong thì tháng 6 năm đó, Việt Câu Tiễn mang quân đánh úp nước Ngô. Thế tử Cơ Hữu ra cự bị quân Việt bắt sống và tự sát. Quân Việt tiến vào nước Ngô.

Tin thất trận báo đến Hoằng Trì. Phù Sai nghe tin có người tiết lộ tin bại trận ra ngoài bèn chém chết. Ông vẫn cố tranh ngôi bá với Tấn Định công. Cuối cùng nước Tấn yếu thế hơn, Tấn Định công phải thừa nhận Phù Sai ở hàng trên. Hai vua cùng ăn thề.

Phù Sai không vừa lòng với nước Tống định mang quân đánh nhưng Bá Bì khuyên nên trở về vì tình hình nguy cấp. Phù Sai nghe theo.
Mất nước
Nước Ngô bị quân Việt xâm lấn, mất thế tử, khí thế giảm sút. Quân Ngô theo Phù Sai đi đường xa mỏi mệt, bị quân Việt đánh bại. Phù Sai phải mang nhiều của cải sai sứ sang giảng hòa với nước Việt. Tuy được giảng hòa nhưng nước Ngô đã suy yếu hẳn trong khi nước Việt vẫn không ngừng lớn mạnh.

Năm 478 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh Ngô. Hai bên giáp trận ở Lập Trạch. Những người mạnh khỏe, hăng hái đều đã chết ở nước Tề, nước Tấn. Vì vậy quân Ngô đại bại.

Năm 476 TCN, Câu Tiễn lại đánh Ngô, quân Ngô lại bại trận. Năm 475 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh, vây nước Ngô. Đến tháng 11 năm 473 TCN, quân Việt đại phá quân Ngô. Ngô Phù Sai sau nhiều lần bại trận không còn khả năng kháng cự, bị quân Việt vây hãm trên núi Cô Tô.

Ông sai Công Tôn Hùng sang xin Câu Tiễn giảng hòa như ông đã tha Câu Tiễn trước đây. Câu Tiễn định nghe theo nhưng Phạm Lãi phản đối, nhắc lại chuyện bại trận ở Cối Kê của nước Việt. Vì vậy Câu Tiễn không cho Ngô giảng hòa, định chiếm hết nước Ngô và đày ông ra đất Dũng Đông, cho 100 nhà ăn lộc.

Phù Sai thấy nhục nhã không thể chấp nhận. Ông hối hận không nghe lời Ngũ Viên trước đây, dùng dao cắt cổ mà chết

Phù Sai ở ngôi tất cả 23 năm, không rõ bao nhiêu tuổi. Ông được Câu Tiễn sai người mang chôn cất. Nước Ngô bị nước Việt tiêu diệt. Phù Sai trở thành vị vua cuối cùng của nước Ngô.

Trong văn học
Ngô vương Phù Sai là một nhân vật được đề cập trong tiểu thuyết Đông Chu Liệt Quốc, xuất hiện từ hồi 79 đến hồi 83. Sự nghiệp của Phù Sai từ khi báo thù nước Việt tới khi bị Câu Tiễn tiêu diệt được mô tả sát thực với chính sử.

Tuy nhiên, về gia đình ông, Đông Chu liệt quốc có thông tin khác, theo đó Phù Sai không phải con trai mà là cháu nội của Hạp Lư. Cha Phù Sai là thế tử Ba – con trai Hạp Lư. Vì thế tử Ba chết trước Hạp Lư nên ngôi vua được truyền cho Phù Sai. Phù Sai được Đông Chu liệt quốc xác định lên ngôi năm 26 tuổi và như vậy qua đời khi 49 tuổi.
Việc sao nhãng chính sự của Phù Sai còn được Đông Chu Liệt Quốc mô tả qua việc say đắm mỹ nhân Tây Thi mà Câu Tiễn dâng cho ông. Chuyện Tây Thi trong cung Ngô Phù Sai trở thành điển tích nổi tiếng của Trung Quốc, được biết đến rộng rãi tại các nước Á Đông.
II. VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
Một hình ảnh của Câu Tiễn.    Tập tin:Goujian sword and inscript detail.svg
Việt Vương Câu Tiễn (chữ Hán: 越王句踐; trị vì 496 TCN - 465 TCN) là vua nước Việt (ngày nay là Thượng Hải, bắc Chiết Giang và nam Giang Tô) cuối thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, một trong Ngũ Bá. 
Nguồn gốc
Theo Sử ký, Câu Tiễn là dòng dõi vua Thiếu Khang nhà Hạ, tên họ là Tự Câu Tiễn (姒句踐). Tổ tiên của ông là con thứ hai của Thiếu Khang, em vua Hạ Trữ.
Câu Tiễn là con trai của Doãn Thường, cháu hai mươi đời của vua Thái Khang, dòng dõi vua Vũ nhà Hạ.
Vua bại trận
Năm 496 TCN, Doãn Thường qua đời, Câu Tiễn lên nối ngôi. Hay tin, vua Ngô Hạp Lư bèn đem quân đánh Việt. Câu Tiễn mang quân ra chống cự. Ông sai những kẻ sĩ quyết liều chết ra khiêu chiến. Họ dàn thành ba hàng, tiến đến trận tuyến quân Ngô, thét lên rồi tự đâm vào cổ. Quân Ngô đang mải nhìn thì Câu Tiễn thúc quân Việt thừa cơ đánh úp. Quân Việt đại thắng quân Ngô ở thành Huề Lý. Quân Việt bắn trúng Ngô Hạp Lư.
Quân Ngô thua to, bỏ chạy về nước. Hạp Lư bị trúng tên trước khi chết, dặn con là Phù Sai phải báo thù nước Việt. Sau đó Phù Sai lên ngôi vua.

Ba năm sau Câu Tiễn được tin Ngô Phù Sai ngày đêm luyện quân sĩ, sắp sửa đánh Việt để trả thù. Ông muốn mang quân ra đánh trước khi quân Ngô xuất trận. Phạm Lãi can nhưng Câu Tiễn không nghe, bèn cất quân. Vì xem thường lực lượng quân Ngô nên quân Việt đã thua to ở Phù Tiêu. Câu Tiễn bèn đem 5000 quân còn lại giữ và trốn tránh ở núi Cối Kê.

Phù Sai đuổi đến, bao vây Cối Kê. Câu Tiễn hỏi kế Phạm Lãi. Phạm Lãi khuyên ông dùng lời lẽ khiêm nhuợng, lấy lễ hậu để lấy lòng vua Ngô; nếu vua Ngô không chịu thì phải thân hành đến hầu hạ.
Câu Tiễn nghe theo, bèn sai đại phu Văn Chủng đến cầu hòa với Ngô. Phù Sai sắp ưng thuận thì Ngũ Tử Tư can không nên theo. Văn Chủng trở về báo với Câu Tiễn. Câu Tiễn muốn giết vợ con, đốt của cải châu báu, xông ra đánh để chịu chết. Văn Chủng ngăn Câu Tiễn nói:Quan thái tể của Ngô tên là Bá Hi là người tham lam có thể dùng lợi để dụ dỗ. Xin nhà vua cho tôi lẻn đến để nói với ông ta.

Câu Tiễn đành phải xin đầu hàng, sai Chủng đem gái đẹp, của quý lẻn đến đưa cho Bá Hi. Bá Hi nhận rồi nói giúp với vua Ngô. Phù Sai nghe theo, cho nước Việt đầu hàng. Nước Việt không bị tiêu diệt nhưng Câu Tiễn bị bắt về nước Ngô. Sau đó ông phải chịu nhịu khổ nhục kể cả việc nếm phân của Phù Sai.
Gian khổ chiến đấu chống quân Ngô

Sau 3 năm phục dịch và chịu nhục cùng với vợ ở nước Ngô, ông đã giành được sự tin tưởng của Phù Sai và được Ngô Vương cho quay về nước Việt. Ông đã tiếp tục cai trị và tiến hành cải cách lớn. Trong thời gian này, ông đã trọng dụng Văn Chủng và Phạm Lãi là những nhà quân sư chính trị, quân sự tài ba để xây lại Việt Quốc. Câu Tiễn bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Việt Vương giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương. Cùng lúc, Phạm Lãi dùng mỹ nhân kế, đem Tây Thi (một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Hoa) dâng cho Ngô vương Phù Sai làm cho Phù Sai hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước). Trong thời gian này, các quan chức của Việt Vương cũng phá hoại nội bộ của Ngô Quốc bằng các thủ đoạn hối lộ và tung tin thị phi. Việt Vương Câu Tiễn đã kiên trì theo đuổi mục tiêu phục thù bằng cách tự đày đọa chính mình như kê gối bằng gỗ khi ngủ, ăn thức ăn của những người nghèo khó,… theo như câu thành ngữ Trung Hoa "nếm mật nằm gai" (臥薪嘗膽, "ngọa tân thường đảm").

Sau 10 năm phục hưng kinh tế, quân sự và cải cách chính trị, Việt Quốc đã trở nên hùng mạnh. Câu Tiễn được sự tin tưởng của Phù Sai, không chú ý tới sự phục hồi của nước Việt mà mang quân lên trung nguyên giao tranh với nước Tề, nước Tấn.
Đầu năm 483 TCN, Phù Sai họp chư hầu ở Hoằng Trì, muốn tranh ngôi bá chủ của nước Tấn. Trong khi hội chư hầu chưa xong thì tháng 6 năm đó, Câu Tiễn mang quân đánh úp nước Ngô. Thế tử nước Ngô là Hữu ra cự bị quân Việt bắt sống và tự sát. Quân Việt tiến vào nước Ngô.

Phù Sai mang quân về nước. Quân Ngô theo Phù Sai đi đường xa mỏi mệt, bị quân Việt đánh bại. Phù Sai phải mang nhiều của cải sai sứ sang giảng hòa với nước Việt. Câu Tiễn cho giảng hòa

Năm 478 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh Ngô. Hai bên giáp trận ở Lập Trạch. Quân Ngô đại bại. Năm 476 TCN, Câu Tiễn lại tấn công đánh bại Ngô lần thứ ba. Năm 475 TCN, Câu Tiễn lại mang quân đánh, vây nước Ngô. Đến tháng 11 năm 473 TCN, quân Việt đại phá quân Ngô. Ngô Phù Sai sau nhiều lần bại trận không còn khả năng kháng cự, xin quy phục như nước Việt trước đây. Câu Tiễn định chấp nhận nhưng Phạm Lãi can không nên. Vì vậy Phù Sai phải đâm cổ tự sát
Làm bá chư hầu
Cuối cùng Câu Tiễn đã tiêu diệt được Ngô Phù Sai, rửa được cái nhục ở Cối Kê. Phù Sai tự vẫn không đầu hàng, ông sai chôn Ngô vương và giết thái tể Bá Hi phản chủ.

Sau khi Câu Tiễn đã bình định được nước Ngô, bèn đem quân về hướng bắc, vượt sông Hoài cùng các nước chư hầu là Tề, Tấn, họp ở Từ Châu, nộp cống cho nhà Chu. Vua Nguyên Vương nhà Chu ban thịt đến Câu Tiễn, cho ông làm bá.

Sau khi đã vượt qua phía nam sông Hoài, Câu Tiễn bèn lấy đất trên sông Hoài cho nước Sở, trả cho nứoc Tống đất Ngô đã lấy của nứoc Tống, trả cho nước Lỗ dải đất một trăm dặm ở phía đông sông Tứ. Bấy giờ quân của Việt làm bá chủ ở phía đông sông Giang, sông Hoài. Chư hầu đều mừng gọi Câu Tiễn là bá vương.
Giết công thần
Khi đại sự thành công, vì cái chết của Tây Thi đã giúp Phạm Lãi thấy được con người thật của Câu Tiễn. Ông cho rằng Câu Tiễn là người chỉ có thể chung hoạn nạn, không thể cùng hưởng yên vui. Phạm Lãi bèn viết thư từ biệt Câu Tiễn:

Tôi nghe: "Vua lo thì tôi phải khó nhọc, vua nhục thì tôi phải chết"! Hồi xưa nhà vua chịu nhục ở Cối Kê, tôi sở dĩ chưa chết là vì còn phải trả thù. Nay đã rửa được nhục rồi, tôi xin chết theo tội ở Cối Kê!
Rồi bỏ đi ẩn dật. Trước khi đi, Phạm Lãi gửi thư về cho đại phu Văn Chủng nói:
Chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn bị nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu có thể cùng lúc lo hoạn nạn, nhưng không thể cùng vui sướng với ông ta. Sao ông lại không bỏ đi?
Văn Chủng nhận được thư nhưng đã không tin. Câu Tiễn cầm theo kiếm đến gặp Văn Chủng và nói:"Nhà ngươi dạy quả nhân bảy thuật để đánh Ngô, quả nhân mới dùng có ba mà nước Ngô đã thua. Còn bốn thuật nữa ở nhà ngươi. Nhà ngươi hãy giúp ta dùng những thuật ấy với tiên vương xem sao".

Câu Tiễn ra về. Văn Chủng biết ý vua Việt muốn sát hại nên đã dùng gươm tự sát. Còn một thuyết là ông bị Câu Tiễn giết chết.
Nhận định: Sử ký có lời nhận định về Câu Tiễn:
“ Câu Tiễn nhọc công, khổ xác, cuối cùng tiêu diệt được nước Ngô mạnh, phía bắc cho quân đội vào xem Trung Quốc để tôn nhà Chu, được danh hiệu là bá vương. Câu Tiễn chẳng đáng gọi là hiền sao? Đó cũng là cái vinh quang sót lại của vua Vũ vậy. Phạm Lãi ba lần dời chỗ ở, đều nổi tăm tiếng để lại đời sau. Vua và tôi đều như vậy, thế nào mà chẳng vinh hiển? ”—Tư Mã Thiên
Tuy Câu Tiễn là người nhẫn nhục giỏi và có tài trị quốc nhưng vì quá đa nghi nên đã sát hại nhiều trung thần và làm tổn hại đến nước Việt sau này.
III. PHẠM LÃI

Phạm Lãi (chữ Hán: 范蠡), tên tự là Thiếu Bá (少伯), là một tướng tài của nước Việt ở Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đã giúp Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô. 
Mưu thần phục quốcXem thêm: Văn Chủng

Khi Câu Tiễn muốn đem quân sang đánh nước Ngô, Phạm Lãi can nhưng Câu Tiễn không nghe. Kết quả là bị vua Ngô Phù Sai đánh cho đại bại ở Cối Kê, bị bắt làm tù binh. Sau đó Việt vương được tha cho về nước.

Về tới nước, Câu Tiễn bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Việt vương giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương. Cùng lúc, Phạm Lãi và bạn thân là đại thần Văn Chủng dùng mỹ nhân kế tuyển lựa người đẹp trong nước là Thi Di Quang (tức Tây Thi - một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Hoa) và Trịnh Đán (sau được gọi là Đông Thi) dâng cho vua nước Ngô là Ngô Phù Sai làm cho Ngô vương hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước).
Cuối cùng Câu Tiễn đánh úp nước Ngô, tiêu diệt được Ngô Phù Sai rửa được cái nhục ở Cối Kê (năm 473 TCN).
Rút lui đúng lúc
Khi đại sự thành công, Phạm Lãi cho rằng vua Việt có tướng cổ cao, môi dài mỏ quạ, là người nhẫn tâm mà ghét kẻ có công, cùng ở lúc hoạn nạn thì được chứ lúc an lạc thì không được, nên không ở lại làm quan mà bí mật trốn đi ở ẩn.

Theo Sử ký - nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn cả - Phạm Lãi đến nước Tề, cha con cùng tự cày cấy làm ăn. Nước Tề sai sứ mang ấn tướng quốc đến mời ông vào triều, nhưng ông từ chối, không màng công danh, rồi cùng gia quyến đến đất Đào, đổi tên thành Đào Chu Công (陶朱公) và trở thành một thương gia giàu có lúc bấy giờ. Tài liệu này còn kể chuyện ông sinh thêm 1 con trai út ở đất Đào. Phạm Lãi có khi nhớ nước Việt đã trở về thăm, có người từng thấy ông lai vãng ở Dường Thành nên sau này đổi tên lại thành Dương Thành Thành Lãi để tưởng nhớ ông. Khi về tới Việt ông thấy rất vui khi dân được ấm no và hạnh phúc.Câu chuyện về người con thứ của Phạm Lãi bị án chết chém ở nước Sở (xem ở dưới) cho thấy khi bỏ nước Việt ra đi, ông mang theo toàn bộ gia quyến và không đi cùng Tây Thi.

Tại nước Tề, Đào Chu Công đã viết sách "Trí phú kỳ thư"
Có thuyết nói rằng ông rủ người đẹp Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, khi ca hát, khi câu cá, lúc đọc sách, mặc cho thời gian trôi qua .

Nhưng có thuyết khác bác bỏ ý trên. Đông Chu Liệt Quốc cho rằng khi diệt được Ngô, Câu Tiễn định mang Tây Thi về Việt nhưng vợ Câu Tiễn ghen nên bí mật sai người bắt nàng, buộc đá vào cổ và đẩy xuống sông cho chết. Vì thế Phạm Lãi chỉ đi một mình.
Lời khuyên Văn Chủng

Theo Sử ký, khi bỏ sang Tề, trong thư Phạm Lãi gửi cho Văn Chủng có đoạn viết:
"Phi điểu tận, lương cung tàng. Giảo thỏ tử, tẩu cẩu phanh. Việt vương vi nhân trường cảnh điểu uế, khả dữ cộng hoạn nạn, bất khả dữ cộng lạc. Tử hà bất khứ?"

Dịch nghĩa:Chim bay mất hết, cung tốt được cất đi. Thỏ khôn chết, chó săn bị nấu. Việt vương là người cao cổ, miệng chim, chỉ có chung hoạn nạn mà không thể chung vui. Thầy sao còn chưa lui về?

Văn Chủng nhận được thư, cáo bệnh không vào triều. Có người sàm tấu Văn Chủng muốn phản loạn. Câu Tiễn ép Văn Chủng tự sát bằng cách ban cho ông thanh kiếm và viết "Tử giáo quả nhân phạt Ngô thất thuật, quả nhân dụng kì tam nhi bại Ngô, kì tứ tại tử, tử vi ngã tòng tiên vương thí chi." (Dịch nghĩa: Thầy dạy quả nhân 7 thuật phạt Ngô, quả nhân dùng 3 đánh bại Ngô, còn 4 ở lại với thầy, thầy vì ta theo tiên vương mà thử.). Văn Chủng bèn tự sát. Theo một tài liệu khác Văn Chủng bị chém chết dù Văn Chủng không có tội gì.

Cũng từ đó mà có thành ngữ "Thỏ tử cẩu phanh", dùng để ám chỉ thói đời đen bạc, lấy oán trả ân, các vị vua hung bạo bất nhân, khi đã lập quốc thành công rồi thì trở mặt giết hại các công thần.
Nhận định
Cuốn Sử ký, mục Việt vương Câu Tiễn thế gia, phần cuối được Tư Mã Thiên nhận định: Phạm Lãi ba lần đổi chỗ ở mà thành danh trong thiên hạ. Không phải ông ta chỉ bỏ đi một cách dễ dàng và thế là hết. Ông ta ở đâu, là nổi danh ở đấy

Phạm Lãi là tướng tài duy nhất sống sót, bởi ông đã sớm nhận ra con người của Câu Tiễn. Ông được người đời sau khen là:Người như ngọc chuốt, lòng tựa lửa hồngĐức còn chảy mãi, nhân tỏ vĩnh hằng
Cứu nước không cứu nổi con
Theo Sử ký, con thứ Phạm Lãi phạm tội giết người, bị giam ở nước Sở. Phạm Lãi quen tướng quốc Sở là Trang Sinh, sai con mang 1.000 dật (24.000 lượng) vàng đi "đút lót" cho Trang Sinh xin tha con mìnhÔng muốn sai đứa con út đi, nhưng người con cả nhất định đòi đi, nếu không sẽ tự sát; vợ ông cũng muốn để người con cả đã chín chắn vì sợ cậu con út còn ít tuổi. Cuối cùng ông đành nghe theo.

Người con cả đến nước Sở gặp Trang Sinh, đưa vàng và ngỏ lời nhờ tha cho em mình. Trang Sinh nhận lời, bảo con Phạm Lãi cứ về, rồi em sẽ được thả mà không được hỏi lý do tại sao. Trang Sinh vốn là người ngay thẳng, định bụng sau khi xong việc sẽ hoàn lại vàng cho Đào Chu công.

Sau đó Trang Sinh vào tâu vua Sở Huệ Vương, mượn điềm thiên văn tai ương để xui vua Sở phóng thích tù nhân, làm điều phúc đức tránh tai hoạ. Vua Sở nghe theo, bèn ra lệnh sẽ thả hết phạm nhân.

Con cả Phạm Lãi chưa về ngay, lại lấy tiền riêng của mình mang theo là 100 dật, nhờ cậy một vị quan khác nước Sở nghe ngóng tình hình. Nghe tin vị đó báo lại là vua Sở sẽ đại xá, anh ta nghĩ rằng đáng lý mình không phải phí vàng đem đút lót mà em mình vẫn được thả, nên quay lại nhà Trang Sinh. Trang Sinh biết ý anh ta muốn đòi vàng, bèn trả lại; nhưng trong bụng thấy xấu hổ vì bị trẻ con nghĩ rằng mình là kẻ tham lam, bèn vào tâu vua Sở rằng:Tôi nghe thiên hạ dị nghị rằng đại vương nhận tiền đút lót của Phạm Lãi nên mới đại xá thiên hạ, làm giảm ân đức của người. Vậy xin chém riêng con Phạm Lãi để thiên hạ thấy sự nghiêm minh, nhân đức của đại vương!

Vua Sở nghe theo, bèn sai mang con thứ Phạm Lãi trong ngục ra chém, còn những phạm nhân khác đều tha. Người con cả mang xác em về. Bà vợ khóc than, Phạm Lãi nói:Sở dĩ tôi muốn sai thằng út đi, vì khi nó sinh ra, nhà ta đã khá giả; vì thế nó sẽ không tiếc của mang hối lộ người ta. Còn thằng cả sinh ra khi nhà ta còn nghèo khó, nó sẽ tiếc của. Bởi thế lúc nó đi, tôi biết là nó sẽ phải mang xác em nó về.

Phạm Lãi hiểu nhân tình thế thái, không những hiểu từng đứa con, còn hiểu cả Trang Sinh nữa; tuy ông có thể cứu nước Việt nhưng lại không cứu nổi con mình. Câu chuyện cái chết của người con ông để lại bài học sâu sắc cho hậu thế về cách đối nhân xử thế trong xã hội.
(Sưu tầm)